91 Phép Lạ

Đức Mẹ Maria

Ban Cho Loài Người

Thánh Alphonsô de Liguori ghi lại những truyện tích dưới đây về Đức Trinh Nữ Maria và sự cầu bầu của Người (trích từ The Glories of Mary – Vinh Quang Đức Maria, mà ngài là tác giả).

1.  Một người đàn ông người Đức đã phạm một tội trọng mà không muốn xưng tội này. Một đằng ông muốn dấu tội, đằng khác ông không thể tiếp tục chịu nổi sự cắn rứt của lương tâm. Vì thế một ngày kia ông muốn trầm mình tự tử. Ngay lúc sắp sửa thực hiện ý định thì ông ngừng lại và khóc lóc xin Chúa tha cho mà không bắt ông phải xưng tội ấy ra.

Một đêm, khi đang ngủ thì bỗng có ai đánh thức: “Con phải đi xưng tội.”  Ông ta đi đến nhà thờ, nhưng bỏ về. Đêm thứ hai, ông lại nghe ai thôi thúc như đêm trước. Khi đến nhà thờ, ông nghĩ thà chết còn hơn phải xưng cái tội ấy ra. Khi sắp sửa rời nhà thờ thì bỗng dưng ông có ý tưởng ghé qua tượng Mẹ Maria cầu nguyện. Trước khi qùy gối trước tượng Mẹ thì ông thấy thay đổi hoàn toàn. Đứng bật dậy, ông chạy tìm cha giải tội và khóc thảm thiết. Nhờ hồng ân của Mẹ Thiên Quốc, ông đã xưng hết các tội. Sau đó, ông cho biết là ông cảm thấy hạnh phúc như đã có trong tay tất cả kho tàng trên thế gian.

2.  Một thanh niên trẻ đã đọc một cuốn sách khiêu dâm khi đang lênh đênh trên biển cả. Một linh mục biết được điều này nên ngài hỏi, “Con có món qùa gì tặng Đức Mẹ không?” Người thanh niên trả lời “Có”. Vị linh mục bèn cho anh ấy biết là ngài ước gì anh xé cuốn sách đó và quăng xuống biển. Chàng thanh niên đưa cuốn sách cho ngài, nhưng ngài muốn chính anh dâng của lễ cho Đức Mẹ. Anh thanh niên đã làm và khi trở về Genoa, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, Mẹ Thiên Chúa đã đốt lửa yêu mến Chúa trong lòng anh, và anh đã dâng mình cho Chúa.

3.  Một vị ẩn tu Mount Olivet có một mẫu ảnh Đức Mẹ trong phòng và hay dâng lên Mẹ những lời cầu nguyện sốt sắng. Ma qủy ghét cay ghét đắng sự kính mến Đức Mẹ của ngài cho nên nó cám dỗ ngài liên tục về đức trong sạch, bất kể bao nhiêu là cầu nguyện và hành xác mà ngài cố gắng thực hiện mỗi ngày. Một hôm ngài hỏi, “Ta đã làm gì mi mà mi không để ta yên?” Con qủy hiện ra và trả lời, “Ngươi có biết là ngươi hành hạ ta còn hơn ta hành hạ ngươi nữa không?” Con qủy nói thêm “Nếu ngươi thề với ta là sẽ giữ kín chuyện này thì ta sẽ cho ngươi biết phải làm gì để không bị ta hành hạ nữa.” Vị ẩn tu hứa. Con qủy nói, “Ta ước gì ngươi đừng bao giờ đến gần bức ảnh ngươi treo trong phòng.” Vị ẩn tu lấy làm phân vân lo lắng. Ngài đi gặp Tu Viện Trưởng Theodore. Vị linh mục khuyên ngài không phải giữ lời hứa đó và cứ tiếp tục cầu nguyện trước ảnh Mẹ. Vị ẩn tu vâng lời cha bề trên và con qủy đã thua cuộc.

4.  Một phụ nữ đến xin gặp linh mục Onefrio d’Ann, cùng ngày mà một trong hai thanh niên mà cô đã có dính dáng với họ về hình sự đã bị chết bởi tay người kia. Cô thưa với linh mục là người này đã hiện về với cô với xiềng xích và trong y phục đen tối cùng với lửa đỏ bao quanh. Anh ta cầm trong tay một thanh gươm và chỉ muốn cắt cổ cô ta thôi.  Trong nỗi sợ hãi kinh hoàng cô la lên, “Tôi làm gì mà anh lại muốn giết tôi?” Người thanh niên trả lời trong giận dữ: “Mi không biết hay sao? Chính mi là cái cớ mà ta mất Thiên Chúa.”  Khi ấy, cô liền kêu xin cùng Đức Mẹ Vô Nhiễm. Khi nghe tên cực thánh của Đức Mẹ linh hồn hư mất này biến mất.

 5.  Khi Thánh Dominic giảng đạo ở Carcassone, bên Pháp thì có một kẻ theo dị giáo bị qủy ám. Thêm vào đó, kẻ này lại hay chống đối công khai việc siêng năng lần hạt Mân Côi. Thánh đã nhân danh Thiên Chúa ra lệnh cho những tên qủy dữ phải nói cho mọi người biết những điều ngài giảng dạy về Tràng Hạt Mân Côi là thật. Chúng phẩn nộ la hét: “Hãy nghe đây, những kẻ tin Chúa, tất cả những gì mà kẻ thù của chúng ta nói về Tràng Hạt Mân Côi là sự thật.” Chúng còn cho biết thêm hai điều: chúng không có quyền gì trên những nữ tì của Đức Mẹ và nhiều người kính mến Đức Mẹ đã được cứu, mặc dù họ không xứng đáng. Sau cùng chúng tiết lộ: “Chúng tao không muốn nói điều này nhưng phải nói là: không ai hư mất nếu có lòng sùng kính Đức Mẹ và năng lần hạt Mân Côi, vì Đức Mẹ sẽ ban ơn ăn năn thống hối cho chúng trước khi chúng chết.”

Thánh Dominic khuyên mọi người lần hạt và lạ lùng thay, khi kinh Kính Mừng vừa cất lên thì nhiều tên qủy đã ra khỏi người đàn ông này, trong hình dáng của những viên than hồng cháy đỏ.  Khi mọi người đọc xong chuỗi Mân Côi thì người đàn ông được giải thoát khỏi sự vây hãm của ma qủy. Cũng trong dịp này, nhiều người dị giáo đã ăn năn trở lại.

6. Sau khi vào một nhà dòng có luật lệ rất lỏng lẻo, một công nương cảm thấy khó có thể tiến triển trong việc tu trì. Nhờ sự khuyên nhủ của cha giải tội, cô lần hạt và suy gẫm các mầu nhiệm Mân Côi hằng ngày. Từ đó cô thay đổi và làm gương tốt cho nhiều chị em khác. Điều này đã khiến các nữ tu mà cô đã gần gũi trước đó trở nên bực dọc khi thấy cô không còn chơi thân với họ nữa. Họ tìm cách tấn công cô về mọi phương diện để cô rời xa đường trọn lành. Nhóm này có qúa nhiều tầm ảnh hưởng. Ngay cả tu viện trưởng cũng không làm sao thay đổi được tình trạng tu trì của nhà dòng.  Một hôm ngài thấy một lô qủy dữ đi vào phòng của các nữ tu, trừ phòng của Jane. Ngài không biết là chính Đức Mẹ đã ngăn cấm chúng vào phòng cô.

Một ngày kia, khi đang lần hạt cầu xin Đức Mẹ giúp cô chịu đựng sự ngược đãi cho nên thì cô thấy một lá thơ rơi xuống từ trên không, và bên ngoài có dòng chữ, “Maria, Mẹ Thiên Chúa, gửi con gái Jane,” và bên trong ghi: “Con yêu dấu của Mẹ, con hãy tiếp tục lần hạt Mân Côi; tránh nói chuyện với những kẻ không giúp con sống tốt lành; coi chừng những giây phút rảnh rỗi và sự hào nhoáng thế gian; bỏ đi hai món không cần thiết trong phòng con, rồi Mẹ sẽ phù hộ con.”

Khi cha biết được sự siêng năng lần hạt Mân Côi của Jane và về lá thơ mà cô đã nhận được, ngài ra lệnh cho các nữ tu khác bắt chước. Từ đó về sau, nhà dòng trở nên như thiên đàng hạ giới.

7.  Tai thành Rôma có một người đàn bà xinh đẹp nhưng sống đời tội lỗi. Khi nghe Thánh Dominic giảng về tràng hạt Mân Côi, bà cũng bắt chước thói quen tốt này, dù không thể bỏ đường tội lỗi.  Một buổi tối kia, trong khi đang dùng cơm tối với một vị khách, bà thấy máu rơi xuống từ tay người khách khi ông bẻ bánh. Ngay cả các món ăn ông chạm vào đều dính máu. Qúa đỗi kinh ngạc bà hỏi ý nghĩa của sự việc. Người đàn ông trả lời là người theo Chúa không bao giờ ăn một món gì không có dính Máu Chúa Giêsu để nhớ lại Cuộc Khổ Nạn của Chúa. Bàng hoàng bởi những gì vừa trông thấy bà hỏi người khách là ai. Người đó trả lời, “Lát nữa Ta sẽ cho bà biết Ta là ai,” rồi rút lui vào một căn phòng. Lát sau, khi đi ra khỏi phòng diện mạo của người đàn ông biến đổi. Đầu đội mạo gai mà thân mình thì rách nát tả tơi. Ngài nói với bà, “Bây giờ con có muốn biết Ta là ai chưa? Con không biết Ta sao? Ta là Đấng Cứu Chuộc của con đây. Hỡi Catherine, bao giờ con mới ngưng xúc phạm đến Ta? Con có thấy Ta đau đớn vì con không? Con đã làm phiền lòng Ta đủ rồi, hãy mau mau thay đổi đời sống.”

Catherine bật khóc nức nở. Chúa Giêsu an ủi bà: “Bây giờ con hãy bắt đầu yêu mến Cha với mức độ như con đã xúc phạm Cha trước đây.” Chúa phán tiếp,” Con nên biết rằng nhờ những chuỗi Mân Côi mà con đã đọc để vinh danh Mẹ Thánh Ta mà con đã nhận được hồng ân này.” Nói xong, Ngài biến mất. 

Sáng hôm sau, Catherine đến gặp Thánh Dominic để xưng tội. Bà tặng tất cả gia tài của mình cho người nghèo và sống một cuộc đời đạo hạnh tuyệt hảo. Đức Mẹ thường xuyên hiện ra với bà. Chúa Giêsu còn cho Thánh Dominic biết là Ngài rất yêu thương người đàn bà thống hối này.

8. Á Thánh Alan de la Roche kể là có một bà kia tên Dominica hay lần chuỗi Mân Côi. Tuy nhiên sau đó bà ta bỏ thói quen lành thánh này và gia tài của cải bị mất hết. Trong nỗi tận cùng của đau khổ bà đã tự tử bằng cách đâm vào ba nơi khác nhau trên thân thể của mình. Đúng lúc ma qủy sắp kéo đến để đem linh hồn bà xuống hỏa ngục thì Đức Mẹ hiện ra với bà và nói, “Con gái yêu dấu của mẹ, mặc dù con đã quên Mẹ, nhưng Mẹ không làm sao quên con được. Nhờ vào những tràng Mân Côi con dâng cho Mẹ để tôn vinh Mẹ khi xưa, Mẹ sẽ sẽ cứu con và ban cho con những của cải đã mất, nếu con tiếp tục lần hạt.”  Dominica đã được Mẹ Thiên Quốc ban cho sức khỏe và của cải đã mất. Sau này, khi lâm chung bà đã được Đức Mẹ đến viếng thăm và đã được chết lành.

9.  Ở thành Saragossa có một nhà qúy tộc tội lỗi tên Peter, họ hàng với Thánh Dominic. Một hôm, khi thánh nhân đang giảng đạo thì thấy Peter đi vào. Ngài xin Chúa cho ngài có cách nào cho mọi người thấy được tình trạng linh hồn thân nhân mình. Ngay lập tức mọi người thấy Peter với hình dáng của một quái vật từ hỏa ngục, và lại còn bị bao vây bởi bao nhiêu là qủy dữ. Cả nhà thờ bỏ chạy, ngay cả người vợ và những người hầu cận thân tín của Peter.

Thánh Dominic nhờ một trong các người bạn của Peter chạy đến cùng Đức Mẹ và lần chuỗi Mân Côi. Ngài nhờ người đó trao một chuỗi tràng hạt cho Peter. Khi nhận được lời nhắn nhủ của Thánh Dominic và trông thấy hình ảnh mình bị bao vây bởi ma qủy, Peter đã xin xưng tội và tiếp tục lần hạt. Từ đó Peter sống cưộc đời đạo đức, đến nỗi Thiên Chúa cho cả nhà thờ thấy ông được đội ba triều thiên hoa hồng.

10.  Trên dẫy núi thành Trent một tên cướp nổi danh đã từ chối nghe lời khuyên của một nhà tu, vì hắn nghĩ đã vô phương cứu chữa. Vị tu hành nói, “Ông đừng nghĩ thế mà hãy làm như tôi chỉ như thế này: Ăn chay vào ngày Thứ Bẩy để tôn vinh Mẹ Maria, đừng hãm hại ai ngày đó. Làm được như thế Mẹ Thiên Chúa sẽ cho ông ơn chết lành.” Tên cướp vâng lời và hứa sẽ không mang theo vũ khí vào ngày Thứ Bẩy. Và qủa thật, ông ta để cho mình bị bắt một cách dễ dàng vào một ngày Thứ Bẩy vì đã không chống cự. Ra trước tòa, quan toà thấy ông ta là một người đàn ông tóc đã muối tiêu cho nên muốn tha bổng cho ông. Tuy nhiên ông muốn chết để đền những tội mình đã phạm bấy lâu nay. Những giọt nước mắt thống hối trước mọi người trong phòng xử đã khiến mọi người mủi lòng khóc theo. Sau đó, người cướp ăn năn bị đem ra xử trảm. Tang lễ cử hành đơn giản và thi hài được chôn cất đơn sơ tại một ngôi mộ gần đó.

Không lâu sau, Đức Mẹ hiện ra với bốn trinh nữ, mang thi hài anh ra khỏi mộ, gói trong một miếng vải thêu chỉ vàng và khiêng xác anh trở lại cổng thành. Đức Mẹ phán với người gác cổng:  “Hãy cho Đức Giám Mục biết là Ta muốn ngài cử hành một tang lễ trọng thể cho người này, vì anh ta là người đầy tớ trung thành của Ta.” Đức Giám Mục cử hành tang lễ đúng như lời Đức Mẹ đòi hỏi. Dân thành kéo đến rất đông để tham dự tang lễ của một kẻ cướp nổi tiếng, với các thủ tục và ghi thức dành cho một nhà quyền qúy. Từ đó, theo Cesarius, mọi người trong vùng bắt đầu tập tục ăn chay vào ngày Thứ Bẩy.

11.  Một người Bồ Đào Nha yêu mến Đức Mẹ, Thánh Micae và Thánh Gioan Tông Đồ đặc biệt và chỉ ăn bánh mì và uống nước lã mỗi Thứ Bẩy để tôn vinh Mẹ Maria. Lúc lâm chung, Nữ Vương Thiên Đàng đã hiện đến với ông cùng với Thánh Micae và Thánh Gioan. Với nét mặt hân hoan Đức Mẹ nhìn xuống ông và nói với hai vị Thánh, “Mẹ chỉ rời nơi này sau khi đem linh hồn này theo.”

12.  Thánh Alphonso kể là trong một buổi giảng phòng (thường là về Đức Mẹ), có một ông cụ đến xin xưng tội với một trong những cha dòng của ngài. “Đức Mẹ đã ban cho con một ân huệ,” ông cụ khoe. “Ngài ban cho cụ ân huệ gì?” cha giải tội hỏi. Ông thú thật: “Trong 35 năm qua con luôn dấu một tội vì qúa xấu hổ. Thế mà con đã thóat bao nhiêu là hiểm nguy, kề cận cái chết bao nhiêu lần. Nếu con chết trong tình trạng có tội trọng thì chắc chắn linh hồn con đã hư mất rồi. Và bây giờ Đức Mẹ đã ban cho con ơn này là đánh động lòng con.” Nói đến đây ông cụ bật khóc nức nở. Sau khi giải tội, cha hỏi ông cụ là cụ đã có thói quen tốt nào không thì cụ cho biết là cụ luôn ăn chay vào ngày Thứ Bẩy để tôn kính Đức Mẹ. Nhờ vào thói quen này, Đức Mẹ đã nhủ lòng thương xót cụ.  Cụ còn cho phép linh mục kể lại kinh nghiệm đời mình trên tòa giảng.

13.  Tại Normandy, một kẻ cướp bị chặt đầu và người ta liệng đầu của anh ta xuống mương. Ít lâu sau, người ta cứ nghe thấy tiếng kêu van, “Mẹ Maria ơi, cho con xưng tội. Mẹ Maria ơi, cho con xưng tội” Một linh mục nghe tin, chạy đến để nghe anh xưng tội. Sau đó ngài hỏi khi còn sống anh có sự tôn sùng gì đặc biệt, thì anh ta trả lời là anh ăn chay một tuần một lần để tôn kính Đức Mẹ Vô Nhiễm. Vì sự yêu mến Đức Mẹ mà Đức Mẹ đã ban cho anh được xưng tội, dù đầu đã lìa khỏi thân mình.

14.  Có hai người giàu sang sống trong thành Madrid cùng bảo nhau sống đời tội lỗi. Một đêm kia, một trong hai người mơ thấy người bạn của mình bị quân Hồi Giáo bắt và đem ra biển trong một ngày bão bùng giông tố. Tới phiên chính anh ta cũng sắp bị cùng chung số phận thì anh chạy tới cùng Mẹ Maria, hứa từ nay sẽ thay đổi đời sống. Anh thoát khỏi tay quân Hồi Giáo. Rồi anh lại trông thấy Chúa Giêsu ngôi trên ngai vàng và coi rất là giận dữ. Anh còn trông thấy Đức Mẹ xin Chúa khoan hồng cho anh.

Khi người bạn đến thăm, anh kể lại giấc mơ nhưng người này chỉ cười nhạo báng không tin. Sau đó anh bạn đã mất mạng bởi một ai đó đâm bằng một lưỡi dao găm. Khi thấy những gì xẩy ra trong mơ đã thành sự thật, anh trở nên đạo đức và bán hết của cải. Tuy nhiên, thay vì cho người nghèo anh lại phung phí trong các cuộc vui chóng qua. Một ít lâu sau anh lâm trọng bệnh và thấy một thị kiến khác: Người bạn trẻ đã chết đang ở trong hỏa ngục vì đã bị Thiên Chúa kết án. Một lần nữa, anh chạy đến cùng Đức Mẹ, và một lần nữa Đức Mẹ cho anh khỏi bệnh. Khi khỏi bệnh rồi, anh lại sống cuộc đời bê tha tội lỗi hơn xưa. Một thời gian sau, anh phiêu lưu đến Lima, Nam Mỹ. Ở đó anh lại bị đau nặng và một lần nữa Thiên Chúa cho anh lành bệnh.

Sau bao nhiêu lần nhận được ơn Chúa cứu, anh xưng tội và hứa với cha Francis Perlino, một cha Dòng Tên là sẽ thay đổi đời sống. Tuy nhiên, khi đến thăm người đàn ông tội lỗi ngài nghe anh ta than rằng: “Con đã hư mất rồi. Thật là đau khổ cho con, cha ơi! Hôm nay cha sẽ làm chứng cho sự trừng phạt của con. Cha biết không? Đây là kết qủa của tội lỗi con. Bây giờ con sẽ đi xuống hỏa ngục.”  Nói xong người đàn ông trút hơi thở cuối cùng, trước khi vị linh mục có cơ hội làm được gì để cứu linh hồn anh ta.

15.  Có một kẻ tội phạm người Đức từ chối không xưng tội khi sắp bị xử tử. Một linh mục Dòng Tên đến khóc lóc van xin nhưng người tử tội vấn cứng lòng không đổi ý. Linh mục thấy không còn cách nào khác hơn là xin người đàn ông cùng với ngài đọc một kinh Kính Mừng. Lạ lùng thay, ngay sau khi kinh Kính Mừng vừa đọc xong thì kẻ tử tù khóc lóc thảm thiết. Anh xưng tội với tất cả lòng thành và còn xin ôm ảnh Mẹ lúc chết.

 16.  Trong một thành phố bên Tây Ban Nha có một người đàn ông không bao giờ đi xưng tội và đã bán mình cho ma qủy. Anh chẳng làm gì ngoài việc đọc một kinh Kính Mừng mỗi ngày. Linh mục Eusebius Nierembergh kể lại là lúc anh sắp chết Đức Mẹ hiện ra với anh trong mơ, nhìn anh với đôi mắt khoan dung khiến tâm hồn anh thay đổi. Lâp tức anh xin cha đến để giải tội cho mình. Anh xưng tội trong nước mắt và hứa sẽ sống đời đạo hạnh nếu qua khỏi. Anh đã chết và chết lành.

17.  Một người đàn bà chỉ bảo cho cô con gái đọc kinh Kính Mừng khi gặp hiểm nguy. Một ngày kia, sau khi khiêu vũ, cô bị tấn công bởi một tên qủy với hình thù thật là kinh khiếp. Cô tưởng cô đã bị bắt cả hồn lẫn xác rồi. Thế mà khi cô bắt đầu đọc kinh Kính Mừng thì kẻ thù biến mất.

18.  Một người đàn bà ở Cologne đã đi tu sau khi khám phá ra là nhà tu hành có liên hệ ái tình với bà đã treo cổ chết trong phòng của bà. Dù đã vào dòng, ma qủy cũng không để bà yên. Chúng hiện ra quấy nhiễu nhiều lần khiến bà không làm sao tránh khỏi cám dỗ. Một nữ tu khuyên bà đọc Kinh Kính Mừng. Bà nghe lời. Con qủy giận dữ gầm thét, “Khốn cho ai dạy mi điều này.” và rút lui vĩnh viễn.

19.  Có một vị Nam Tước sống một cuộc đời rất tội lỗi. Một ngày kia, nhờ ơn soi sáng của Thiên Chúa một vị tu hành đến xin Nam Tước cho vời mọi người trong cung vào cho cha gặp mặt. Mọi người kéo đến, chỉ trừ có viên thị vệ. Sau cùng viên thị trấn cũng phải ra mắt linh mục này. Ngài nói với người này, “Nhân danh Chúa Giêsu Kitô ta truyền cho mi phải nói thật, mi là ai?” Tên này trả lời, “Ta là một tên qủy từ hỏa ngục. Đã 14 năm ta giả làm người thân tín của tên này, hy vọng một ngày nào đó hắn sẽ bỏ thói quen đọc bẩy kinh Kính Mừng thì ta sẽ bóp cổ và kéo nó xuống hỏa ngục.” Vị tu hành ra lệnh cho tên qủy phải bỏ đi.  Hắn vâng lời và biến mất. Khi chứng kiến sự việc khó tin nhưng có thật này, vị Nam Tước đã sấp mình xuống dưới chân nhà tu, xin ăn năn trở lại và đã sống một cuộc đời đạo hạnh.

20.  Á Thánh Francis Patrizii yêu mến Kinh Kính Mừng một cách lạ lùng. Ngài đọc 500 kinh mỗi ngày. Đức Mẹ cho thánh biết trước giờ chết và ngài đã chết lành. Sau 40 năm một bông hoa huệ đã nở ra từ miệng ngài. Sau đó bông huệ đã được chuyển sang Pháp.  Trên những cánh hoa có khắc Kinh Kính Mừng, bằng chữ vàng.

21. Thánh Cesarius thành Arles kể là có một thầy dòng Cistercian cả đời chỉ đọc sốt sắng một kinh Kính Mừng. Sau khi chết, tại ngôi mộ của ngài đã mọc lên một cây có lá khắc chữ “Ave Maria, gratia plena.”  (Kính Mừng Maria, đầy ơn phước).

22.  Có ba trinh nữ được cha linh hướng khuyên đọc chuỗi Mân Côi 40 ngày trong một năm để chuẩn bị cho ngày Lễ Mẹ Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh. Vào đêm trước ngày Lễ, Đức Mẹ hiện ra với một cô trong một chiếc áo choàng thêu vàng. Ngài cám ơn và chúc lành cho cô. Sau đó, Ngài hiện ra với cô gái thứ hai với một áo choàng đơn giản hơn. Cô này hỏi Đức Mẹ, “Tại sao Mẹ cho chị con một chiếc áo lộng lẫy trong khi Mẹ cho con chiếc áo này, qúa đơn giản?” Đức Mẹ trả lời, “Vì chị con đã mặc cho Mẹ áo đẹp hơn chiếc áo con đã mặc cho Mẹ.” Sau đó, Ngài hiện ra với cô gái thứ ba với chiếc áo bằng vải bạt. Cô biết ngay là vì đã không sốt sắng đọc kinh tôn vinh Mẹ.

Năm sau, cả ba cô chuẩn bị sốt sắng và cũng như năm trước, Đức Mẹ hiện ra sáng láng và phán với cả ba người, “Hãy chuẩn bị, ngày mai Ta sẽ đưa cả ba con về Thiên Đàng.” Qủa thực, ngày hôm sau, ba trinh nữ đã được Đức Mẹ đến đem về Trời sau khi chịu Mình Thánh Chúa, trong tiếng hát Thiên Thần.

23.  Cha Crasset kể rằng có một viên sĩ quan cho ngài biết là sau một trận chiến ác liệt, ông thấy một binh sĩ cầm trong tay cỗ trành hạt và Ảnh Áo Đức Bà và xin xưng tội, trong khi óc đã trào ra từ sọ bởi một viên đạn hỏa mai bắn vào trán và xuyên qua đầu! Đây qủa là một vết thương qúa nặng, chỉ có phép lạ anh mới sống được tới giờ đó. Thế mà, khi thấy cha Tuyên Úy người lính cố gắng gượng dậy, xưng tội sốt sắng, xong mới trút hơi thở cuối cùng. 

24.  Cũng từ viên đại úy trên, ông kể là có một tay kèn trong đơn vị ông bị trúng đạn trong một trận cận chiến, nhưng không thấy máu chẩy hay đau đớn chi cả. Ngạc nhiên vì sự sống sót bất thường của người lính, viên đại úy giở áo anh ra xem thì thấy viên đạn đã được chặn lại bởi ảnh Áo Đức Bà. Viên đại úy đã kể cho đội quân của mình nghe và chưng cả bằng chứng là ảnh áo Đức Bà.

25.  Sau khi được cha là một hoàng tử gửi đến Saxony, một chàng trai trẻ tên Eschylus đã sống đời trụy lạc. Sau đó chàng sinh bệnh. Lúc gần chết chàng trông thấy một thị kiến là bị nhốt trong một lò lửa hỏa ngục. Khi thoát ra khỏi nhờ một khe hở nhỏ, chàng trốn vào một nơi rất khang trang. Chàng trông thấy Đức Mẹ và Mẹ giận dữ nói, “Hỡi tên con trai hư đốn kia, sao ngươi dám đến trước mặt ta? Hãy ra khỏi đây và trở về nơi có lửa đỏ, nơi mà ngươi rất xứng đáng ở đó.” Chàng thanh niên xin Đức Trinh Nữ thương xót. Anh ta nhờ cả những người gần đó, xin họ cầu bầu cùng Đức Mẹ. Họ xin Đức Mẹ, nhưng Mẹ trả lời, “Các con không biết hắn đã sống tội lỗi thế nào. Đã thế, hắn chẳng bao giờ đọc một Kinh Kính Mừng chúc tụng Mẹ.” Tuy nhiên, những người bênh đỡ không bỏ cuộc, cứ tiếp tục van xin Đức Mẹ, “Mẹ ơi, anh ta sẽ thay đổi đời sống.” Chàng trai nói thêm, “Đúng thế, con hứa sẽ thống hối và làm tôi tớ Mẹ suốt đời” Khi sự giận dữ của Đức Mẹ đã qua đi, Mẹ nói, “Thôi được, Ta nhận lời hứa của con. Hãy trung thành với Mẹ và nhận chúc lành của Ta. Hãy ra khỏi hỏa ngục và sự chết.” Nói xong, Mẹ biến mất.

Eschylus tỉnh dậy, tạ ơn Đức Mẹ và kể lại cho mọi người nghe hồng ân bao la anh vừa nhận được. Từ đó anh sống một cuộc đời đạo hạnh, luôn luôn dành sự sốt mến đặc biệt cho Đức Mẹ, và trở thành Đức Tổng Giáo Mục thành Lude ở Đan Mạch, nơi ngài cải hoán bao nhiêu người. Khi gần cuối đời, ngài xin ở ẩn và trở thành một thầy dòng Clairvaux trong bốn năm và chết lành.  Các thánh dòng Cistercian đã viết rất nhiều về sự trở lại của ngài.

26.  Một thành viên của Hội con Đức Mẹ đã quên mất lời hẹn ăn tối với bạn sau khi họp. Người này cảm thấy bị xúc phạm nặng nề đến nỗi muốn giết chết bạn mình. Nhưng vì sự công thẳng của Thiên Chúa, anh ta lại quay mũi súng vào chính mình. Người ta nghi anh kia là thủ phạm giết người cho nên đem anh ra tòa và anh phải lãnh bản án tử hình. Anh cầu xin Đức Mẹ, và qua sự soi sáng của Mẹ Nhân Lành, anh xin cho nhìn thi thể người bạn và hỏi người này là ai đã giết mình. Người này thú nhận là chính anh đã tự tử. Thế là kẻ tử tù được phóng thích.

27.  Năm 1604, tại Dola, một thành viên của Hội nêu trên bị đau nặng lắm. Vào ngày lễ Bổn Mạng của Hội, anh nghĩ, “Giờ này các bạn mình đang quây quần chúc tụng Mẹ Maria, còn mình thì lại nằm đây!”  Nghĩ thế, anh đứng dậy, ra khỏi giường và đến nơi họp. Khi đến nơi, anh hết bệnh từ bao giờ.

28.  Có một ngư phủ, cũng thuộc Hội nêu trên đã sinh bệnh vì theo những luật lệ nghiêm ngặt của Hội.  Khi thấy trong người khỏe hơn anh ta ra biển đánh cá. Anh cầu xin cùng Đức Trinh Nữ, “Mẹ ơi, vì Mẹ mà con đã chịu những sự không hay này. Xin Mẹ giúp đỡ con.” Đức Mẹ đã cho anh lưới được rất nhiều cá, bù lại cho thời gian anh bị bệnh.

29.  Một hội viên khác sắp phải vào tù vì nợ nần. Anh cầu xin Đức Mẹ cứu giúp. Đức Mẹ đã can thiệp và soi sáng cho những chủ nợ của anh để họ tha hết nợ cho anh.

30.  Một thanh niên ra khỏi Hội và sống một đời sống bê tha tội lỗi. Một đêm kia, một tên qủy hiện ra với hình thù kinh dị. Anh kêu cầu cùng Trinh Nữ Maria. Nhưng hắn nói, “Vô ích. Mi kêu cầu cùng Đấng mà mi đã từ bỏ. Vì tội lỗi mi cho nên mi đã thuộc về ta rồi.” Chàng thanh niên qùy xụp đọc lời nguyện mà Hội hay đọc, “Lạy Mẹ Maria rất Thanh Sạch,” … Tức thì Mẹ Thiên Chúa hiện ra với anh. Ngài cho anh biết, “Dù con không xứng đáng sự cứu giúp của Mẹ, nhưng Mẹ thương con vì Mẹ muốn con thay đổi và trở lại với Hội.” Khi trông thấy Đức Mẹ tên qủy chạy mất, để lại một mùi hôi thối khủng khiếp với một lỗ hổng to trên tường.

31.  Ở Braganza có một thanh niên cũng rời Hội và sống đời trụy lạc. Một hôm, trong tuyệt vọng anh muốn phóng xuống sông tự tử. Nhưng trước khi thực hiện ý định điên rồ, anh xin Đức Mẹ, “Mẹ ơi, con đã từng phục vụ Mẹ trong Hội, cứu con Mẹ ơi.” Tức thì Đức Mẹ hiện ra với anh. Ngài nói, “Con làm gì thế? Bộ con muốn hủy cả hồn lẫn xác hay sao? Đi xưng tội và trở lại với Hội ngay lập tức!” Khuyến khích bởi Đức Mẹ, anh tạ ơn Người và hoán cải.

32.  Có một nhà tu hành, trong cơn giận dữ đã giết chết bề trên của mình. Sau án mạng, anh bỏ trốn và đến thành Barbary, ở đó anh bỏ đạo, lấy vợ và sống một cuộc đời tội lỗi. Anh chẳng làm một điều lành gì, ngoài đọc một kinh Kính Lạy Nữ Vương mỗi ngày.

Một hôm, khi đang đọc Kinh này ở một nơi thanh vắng thì Đức Mẹ hiện ra khuyên anh trở lại và hứa là sẽ cứu giúp anh. Lúc về nhà, người vợ thấy anh buồn rầu qúa đỗi thì hỏi cớ sự. Anh tỏ bầy cùng người bạn trăm năm về tình trạng tội lỗi của mình và về việc được trông thấy Đức Mẹ. Người vợ thông cảm, cho anh tiền về quê, và còn khuyên anh đem theo một người con. Anh trở lại tu viện cùng với đứa con. Các cha trong Dòng giơ tay đón nhận người con tội lỗi trở về. Kẻ thống hối sau này đã sống và chết trong thanh danh của một vị thánh.

 33.  Một học sinh được dạy đọc câu này mỗi khi trông thấy ảnh hay tượng Đức Mẹ, “Kính Mừng Maria, Mẹ đầy thương xót.” Khi sắp chết Đức Mẹ hiện ra với anh ta và hỏi, “Con ơi, con không biết Ta sao?  Ta là Mẹ Thương Xót mà con đã chào bao nhiêu lần đó.”  Và khi lâm chung, người đầy tớ của Đức Trinh Nữ đã giang tay ra như là được Đức Mẹ đón đi về hưởng Nhan Thánh Chúa.

34.  Có một kẻ tội lỗi coi như vô vọng, không biết có được rỗi linh hồn. Anh này chỉ đọc câu này mỗi ngày, “Nhờ Mẹ che chở ..,”Sub tuum presidium…” Một lần kia Đức Mẹ soi sáng cho anh để anh có ý tưởng vào dòng. Sau đó, anh đã sống cuộc đời tu trì đầy gương sáng và chết lành.

35.  Vào năm 1610, tại thành Turin có một người theo dị giáo, cho đến chết cũng không muốn ăn năn trở lại dù cho các linh mục đã cầu nguyện cho anh trong tám ngày ròng rã. Sau cùng có một cha đã gần như ép buộc anh phải đọc câu này, “Lạy Mẹ Chúa Giêsu, xin cứu giúp con.” Và kẻ theo dị giáo đã tỉnh dậy và kêu lên là “Cho con rửa tội.”  Hai tiếng đồng hồ sau, sau khi được rửa tội anh về hưởng hạnh phúc Thiên Đàng.

36.  Một kẻ ngoại đạo ở Ấn Độ đã nghe nói nhiều về quyền phép của Đức mẹ. Anh đã chạy đến cùng Mẹ khi sắp rời cõi thế. Đức Mẹ hiện ra với anh và nói, “Hãy trở thành con Chúa, vì con đã chạy đến cùng Ta.”  Ngay lập tức anh khỏi bệnh và xin được rửa tội. Nhiều người đã xin rửa tội từ phép lạ này.

37.  Năm 1610, ở Madrid có một người kính mến Đức Mẹ hết lòng, đặc biệt là ảnh Đức Mẹ Antioch. Vợ của anh ghen lạ kỳ với ảnh Mẹ. Mỗi Thứ Bẩy anh đi chân đất để vợ không biết khi anh ta lén lút đi thăm viếng ảnh Mẹ. Một lần kia vì ghen tức qúa sức người vợ đánh đập anh thật tàn nhẫn. Vì qúa phẩn uất anh treo cổ tự tử. Nhưng ngay lúc linh hồn sắp lìa khỏi xác anh xin Đức Mẹ cứu giúp. Và một bà rất xinh đẹp hiện ra và cắt sợi dây thừng cứu sống anh. Trở về nhà, anh kể lại sự việc cho người vợ anh nghe. Chị ta ăn năn hối lỗi và hai người sống trong hạnh phúc, và cùng yêu mến Mẹ Thiên Quốc.

38.  Năm 1613, tại thành Valentia có một kẻ qúa xấu hổ để xưng một tội đã phạm. Từ đó, anh phạm thêm một tội nữa là đã không xưng tội cách trọn. Một hôm vì không thể chịu được sự cắn rứt lương tâm, anh đi viếng Đức Mẹ ở Halle để khuây đi nỗi hối hận. Lạ thay, khi vừa đến cửa nhà thờ thì như có một sức mạnh vô hình đã đẩy anh ra ra, không cho vào. Anh nhủ lòng là phải đi xưng tội, và ngay lập tức anh đi vào nhà thờ như không. Sau khi xưng tội, anh về nhà với lòng an ủi vô biên.

39.  Khi đi viếng một nhà thờ có bàn thờ Rất Thánh Trinh Vương, Adam, một thầy dòng Cistercian, đã qùy gối phía ngoài để cầu nguyện vì cửa nhà thờ đã đóng. Khi ngài chưa kịp qùy xuống thì ngài thấy cánh cửa tự động mở ra. Ngài đi vào và thấy Đức Mẹ hiện ra trong sự sáng láng đẹp đẽ. Mẹ nói với ngài, “Adam, hãy đến gần, con có biết ta là ai không?” Adam trả lời, “Dạ con không biết, Bà lài ai?” Bà trả lời, “Ta là Mẹ Thiên Chúa. Con nên biết, vì sự sùng kính của con đối với ta, Ta sẽ luôn gìn giữ con.”  Và Đức Mẹ đã đặt tay lên đầu của ngài và chữa hẳn căn bệnh đã hoành hành ngài bao năm.

40.  Khi đi viếng nhà thờ Đức Mẹ, một phụ nữ đã không cho chồng biết. Sau đó, một cơn bão lớn đã không cho phép bà trở về nhà đêm đó. Bà rất lo sợ người chồng sẽ rất giận dữ, nhưng chỉ biết phó thác cho Mẹ. Hôm sau, bà về nhà và ngạc nhiên khi thấy người chồng vẫn đối xử tử tế với mình. Dò hỏi thì biết được là đêm hôm trước Đức Mẹ đã gỉa hình bà để chăm sóc nhà cửa như một nữ tì. Bà liền kể cho chồng bà nghe mọi sự. Từ đó cả hai cùng tôn kính Mẹ đặc biệt.

41. Một kỵ mã tại thành Doul, nước Pháp tên là Ansaldo đã bị một mũi tên ghim sâu vào cằm, không làm sao rút ra được. Sau bốn năm trời đau đớn, anh ta sinh bệnh và thử rút mũi tên ra lần nữa. Anh thưa với Đức Mẹ là nếu Đức Mẹ nhận lời anh thì hằng năm anh sẽ đi hành hương đến nơi có ảnh Mẹ để dâng cúng và tạ ơn. Ngay khi cầu nguyện xong, mũi tên rơi ra. Ngày hôm sau, mặc dù vẫn còn đau đớn vì vết thương, anh chạy đến tạ ơn Đức Mẹ với của lễ đã hứa trên bàn thờ Mẹ. Anh rời nhà thờ với sức khỏe bình phục hoàn toàn.

42.  Một người con gái trông thấy thị kiến Chúa Giêsu ngồi trên ngai và sắp sửa phạt một chàng trai người Tây Ban Nha xuống hỏa ngục vì đã thông dâm với một người em họ. Tuy nhiên, Mẹ Chí Thánh của Người đã xin hoãn 30 ngày, vì chàng trai này có lòng yêu mến Đức Mẹ. Bởi lời khuyên của Đức Mẹ, người em họ đi xưng tội và cha giải tội cho người thanh niên biết là ngài đã biết chuyện. Anh thanh niên xưng tội trong nước mắt và hứa sẽ không tái phạm. Thế nhưng, anh lại phạm tội. Và lại đi xưng tội. Và lại phạm tội. Sau đó, anh tránh không đi gặp cha để xưng tội nữa. Vị linh mục đến nhà tìm anh thì bị anh đuổi ra khỏi nhà. 

Cuối cùng hạn kỳ của 30 ngày đã hết. Vị linh mục trở lại thăm, nhưng chàng trai không muốn gặp ngài. Cha phải bỏ đi nhưng dặn người tì nữ là phải cho ngài biết nếu có chuyện gì bất thường xẩy ra. Đêm đó, chàng trai bị một cơn đau khủng khiếp. Linh mục được gọi và ngài sẵn sàng đến để giúp đỡ. Tuy nhiên, người thanh niên bất hạnh kêu lên, “Trái tim con đã bị đâm bởi một lưỡi đòng và con sắp chết rồi.” Sau đó, với một tiếng kêu thảm thiết, anh trút linh hồn!

43.  Tại Milan có một người đàn ông mê cờ bạc đến nỗi một ngày kia anh mất cả bộ quần áo đang mặc trên người. Giận dữ đến điên cuồng, anh cầm dao rạch ảnh Đức Mẹ Vô Nhiễm, và máu từ ảnh Mẹ đã bắn xối xả vào mặt anh ta. Qúa xúc động anh bật khóc nức nở và tạ ơn Đức Mẹ đã ban cho anh có thì giờ để đền tội. Sau đó anh vào dòng Cistercian và sống một đời tu hành đạo đức đến nỗi Chúa ban cho ngài ơn tiên tri. Sau 40 năm, ngài đã được chết lành.

44.  Có một người tội lỗi đã qùy khóc ăn năn dưới chân thánh giá và xin Chúa cho một dấu là đã được tha tội. Nhưng anh không thấy dấu gì cả. Không bỏ cuộc, anh chạy đến ảnh Đức Mẹ Sầu Bi để xin ơn cho được thấy dấu. Đức Mẹ hiện ra với anh. Ngài cho anh thấy Đức Mẹ trình lên Chúa, con yêu dấu của Mẹ những giọt lệ của anh.  Mẹ nói,”Con ơi, chẳng lẽ những giọt lệ này sẽ thành vô ích hay sao? “Fili, istae lacrymae peribunt?” Sau đó, Chúa đã cho anh biết là Chúa đã tha tội cho anh. Từ đó đã sống một cuộc đời đạo đức.

45.  Trong một buổi giảng phòng về sự cầu bầu quyền thế của Đức Mẹ một ông cụ đã đến xưng tội với một trong các cha giảng phòng tên là Cesar Sportelli (sau đó đã chết lành, thân xác không thối rữa sau nhiều tháng). Qùy dưới chân vị linh mục, cụ gìa nói, “Cha ơi, xin cha xin Đức Mẹ thương xót con.”  Cha Cesar trấn an, “Con yên tâm, Mẹ là Mẹ hay thương xót, Mẹ sẽ thương xót con.” “Nhưng cha không thể ban phép tha tội cho con, vì con không bao giờ xưng tội.”  Đúng vậy, cụ già này không bao giờ vào tòa giải tội, dù là người Công Giáo. Linh mục Cesar tiếp tục khuyến khích cụ gìa xưng tội, và sau cùng thì cha đã được như ý. Cụ gìa xưng tội và được nhận ơn tha tội với sự an ủi vô bờ.

46.  Á Thánh Bernard Tolomeo, vị thành lập Dòng Các Cha Olivetan, từ bé đã có lòng yêu mến Đức Mẹ hết lòng, đã bị cám dỗ khủng khiếp khi sống ẩn tu tại Accona, nơi cũng gọi là Núi Olivet. Ngài cứ lo sợ là Chúa không tha tội cho ngài và ngài sẽ mất linh hồn. Mẹ Thiên Chúa đã hiện ra và phán, “Con sợ gì hỡi con? Can đảm lên. Thiên Chúa đã tha thứ cho con và Ngài rất vui mừng vì con đã sống đời sống thánh thiện. Con hãy vững tin. Mẹ sẽ cứu giúp con.” Vị ẩn tu tiếp tục sống đời sống tu trì thánh thiện và đã chết lành trong tay Đức Mẹ.

47.  Có một cô gái người Đức tên là Agnes đã phạm tội loạn luân. Nàng bỏ trốn vào sa mạc để sanh con. Con qủy đã hiện ra dưới hình thù của một nhà tu hành, thuyết phục nàng liệng đứa bé mới sanh xuống hồ. Sau đó hắn lại còn đề nghị nàng nên tự trầm xuống đó luôn. Cô gái kêu lên, “Mẹ Maria ơi, xin cứu con.” Tức thì tên qủy biến mất.

48.  Có một ngưòi lính đã hứa bán vợ mình cho ma qủy với một món tiền. Khi ngày định mệnh đã đến, trên đường đi vào rừng để thi hành lời hứa, người lính và vợ đi ngang một nhà thờ đã kính hiến cho Đức Trinh Nữ, người vợ xin cho vào nhà thờ để đọc kinh kính Đức Mẹ. Khi nàng vào nhà thờ thì Đức Mẹ mượn hình ảnh của nàng, đi theo người đàn ông. Khi đi đến khu rừng tên qủy kêu lên, “Tên phản bội kia, tại sao mi đem kẻ thù của ta là Mẹ Thiên Chúa đến cho ta, thay vì vợ mi?” “Còn ngươi, Đức Mẹ nói, sao dám làm hại tôi tớ của Ta? Đi xuống hỏa ngục ngay lập tức.” Quay lại người đàn ông Đức Mẹ phán, “Hãy cải thiện đời sống và Mẹ sẽ giúp con.” Đức Mẹ biến đi và người đàn ông khốn khổ đã thống hồi và thay đổi đời sống.

49.  Một người đàn bà tội lỗi sống ở Mexico đã hứa với Đức Mẹ là nếu khỏi bệnh sẽ dâng mái tóc óng ả của mình cho Đức Mẹ. Khi được Đức Mẹ cho khỏi bệnh, nàng cắt mái tóc của mình và đặt lên trên đầu tượng Trinh Nữ Maria. Sau đó, nàng trở lại con đường tội lỗi cũ. Ít lâu sau, nàng bị bệnh và chết. Từ bức tượng, Đức Mẹ phán với Linh Mục Giaramaria Salvaterra: “Hãy gỡ mái tóc trên đầu Ta ra, vì nó thuộc về linh hồn của một kẻ tội lỗi đã hư mất, không thích hợp với đầu của Mẹ Tinh Tuyền.” Cha Salvaterra vâng lời Mẹ và quăng mái tóc này vào lò lửa.

50.  Vài người theo Chúa tại Tây Ban Nha đã kêu xin Đức Mẹ sau khi bị Petran, một người Hồi giáo Saracen cầm tù. Đức Mẹ hiện ra với Petran và hỏi, “Petran, tại sao ngươi dám bắt các tôi tớ Ta làm tù nhân? Hãy vâng lời và trả tự do cho họ tức thì.” Người theo đạo Hồi liền hỏi, “Bà là ai mà bắt tôi phải vâng lời?” “Ta là Mẹ Thiên Chúa, và vì họ đã kêu cầu cùng Ta, Ta muốn ngươi trả tự do cho họ.”  Ngay lập tức lòng của Petran thay đổi, anh ta trả tự do cho những người này và dâng mình cho Đức Mẹ. Trước hết Mẹ dạy dỗ anh và sau đó đã rửa tội cho anh tại một suối nước. Một nhà thờ và tu viện Thánh Benectine đã được xây lên tại nơi này.

51.  Một giáo sĩ đã trợt chân ngã xuống dòng sông Seine và chết đuối trong khi đang có tội trọng, mặc dù luôn có lòng yêu mến Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Khi ma qủy kéo đến để đem linh hồn giáo sĩ xuống hỏa ngục thì cùng lúc Đức Mẹ hiện ra. Ngài phán, “Ai cho phép chúng bay mang đi linh hồn của một người đã ca tụng tôn vinh Ta?” Rồi quay sang kẻ tội lỗi, Mẹ phán,”Hãy ăn năn đền tội, và tôn sùng sự Vô Nhiễm của Ta.”

Giáo sĩ sống lại, trở nên đạo đức và không bao giờ quên tạ ơn Đức Mẹ đã giải thoát mình, và luôn luôn rao giảng lòng sùng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm.

52.  Trong khi các thày dòng Claivaux tạ ơn Nữ Vương Thiên Đàng khi đang gặt hái ngòai đồng thì người ta trông thấy Đức Mẹ âu yếm nâng niu các ngài, trong khi hai vị Thánh khác chùi mồ hôi cho các ngài.

53.  Bào huynh của Hoàng Đế Hung Gia Lợi đọc kinh Nhật Tụng kính Đức Mẹ mỗi ngày và ngày kia bị đau rất nặng. Ngài hứa với Đức Mẹ là sẽ giữ lòng chay tịnh nếu được khỏi bệnh. Được ơn Mẹ cho khỏi bệnh rồi, nhưng vì em trai đã mất, ngài phải lấy vợ để nối dõi. Trước giờ cử hành Lễ cưới, ngài dành vài phút đọc kinh. Khi đọc đến câu “Lạy Nữ Vương dịu dàng và xinh đẹp,” thì ngài thấy Đức Mẹ hiện ra. Mẹ hỏi ngài, “Nếu Mẹ xinh đẹp như con nói thì tại sao con lại bỏ Mẹ để đi theo người khác? Con biết rằng nếu con bỏ nàng thì con sẽ có Mẹ là hiền thê và Thiên Đàng thuộc về con, thay vì quốc gia Hung Gia Lợi. Sau đó, vị hoàng tử vào sa mạc gần Aquileia, sống một đời tu hành đạo đức.

54.  Thánh John Climacus kể lại rằng có một tu sĩ tên Carcerio, hay có thói quen hát những bài hát ngắn tạ ơn Đức Mẹ, và đọc kinh Kính Mừng để chào ảnh tượng Đức Mẹ. Lần kia nhà tu bị bệnh nặng, và trong cơn đau đớn, ngài cắn phải lưỡi và môi đến nỗi đau gần chết và sau đó không nói được nữa. Khi ngài phó dâng linh hồn cho Chúa thì Mẹ Thiên Chúa hiện ra với ngài. Đức Mẹ phán,”Ta đến để chữa con, vì Ta không muốn miệng lưỡi hay dâng lời tạ ơn Ta lại phải chịu đau đớn. Hãy đứng lên, con đã khỏi và tiếp tục tạ ơn Mẹ.” Vừa nói Mẹ vừa rẩy vài giọt Sữa của Mẹ lên ngài. Ngay lập tức, Carcerio khỏi bệnh.  Ngài không ngừng tạ ơn Đức Mẹ cho đến khi chết trong Tay Người.

55.  Khi Thánh Francis Borgia ở Rôma thì có một linh mục muốn gặp ngài. Nhưng vì ngài bận cho nên gửi cha Acosta đến cho linh mục đó gặp. Cha này nói với cha Acosta, “Thưa cha, mặc dù con là cha và giảng đạo, con không tin vào lòng Từ Bi Thương Xót Chúa, con đang sống trong tội. Một lần kia, sau khi con giảng về đức trong sạch thì có một người đến xưng tội, những tội y hệt tội của con. Anh ta còn nói với con là anh đang cầu xin lòng từ bi thương xót Chúa. Theo đúng bổn phận, con khuyên anh ta là phải thay đổi đời sống và tin vào Thiên Chúa. Ngay lập tức, người này đứng lên và nói với con, “Tại sao cha giảng điều này cho người khác, mà chính cha lại không ăn năn thống hối và mất lòng tin? Cha phải biết rằng Ta là một Thiên Thần đã được Chúa gửi xuống để cải hoán cha.” Nói xong, Thiên Thần biến mất.

Linh mục kể tiếp, “Con đã tránh tội được vài ngày nhưng chứng nào tật nấy, con lại tái phạm. Một ngày nọ, khi con đang dâng Mình Thánh Chúa thì Chúa Giêsu đã đã phán với con từ Bánh Thánh: “Tại sao con xúc phạm đến Cha trong khi Cha xử với con qúa đẹp?” Sau đó, con đã ăn năn. Nhưng rồi con lại phạm tội trở lại. Vừa rồi có một thanh niên đến thăm con. Từ áo choàng người này kéo ra một chén thánh, trong đó có một Bánh Thánh. Thanh niên hỏi con: “Cha có biết Thiên Chúa mà tôi đang cầm trong tay không? Cha có biết bao nhiêu hồng ân Chúa đã ban cho cha không? Bây giờ, vì sự vô ơn của cha tôi sẽ giết cha. Thanh niên rút kiếm ra và định đâm con. Con hoảng sợ la lên, xin tha chết: “Vì lòng yêu mến Đức Mẹ xin đừng giết tôi vì tôi hứa sẽ thay đổi đời sống.” 

Người thanh niên bảo với con là: “Đây là một điều duy nhất có thể cứu cha: Lòng yêu mến Đức Mẹ là hồng ân cuối cùng cho cha.” Nói xong người trẻ tuổi bỏ đi và con đến gặp cha ngay lập tức đây. Xin cha hãy đón nhận con vào hàng ngũ những người con của cha.”

Linh mục Acosta an ủi cha nọ và nhờ lời khuyên nhủ của Thánh Francis cha đã vào nhà dòng khác với luật lệ nghiêm khắc, sống đời tu trì thánh thiện cho đến chết.

56.  Vào một ngày Thứ Bẩy năm 1228, khi một thày cả đang dâng Thánh Lễ mừng kính Đức Mẹ thì có vài tên Hồi Giáo đến cắt mất lưỡi của ngài. Sau đó, ngài xin tá túc tại tu viện ở Cluny. Nơi đây các thày dòng chăm sóc ngài với lòng bác ái vô biên. Mặc dù được săn sóc tận tình, ngài vẫn cảm thấy có một nỗi đau đớn to lớn hơn sự đau đớn thể xác gấp ngàn lần. Đó là ngài không được dâng Lễ và đọc những lời kinh Nhật Tụng kính Đức Mẹ hằng ngày như trước.

Ngày Lễ Ba Vua sắp đến, vị linh mục này xin các thầy dòng đưa mình đến nhà thờ, và trước tượng Đức Mẹ ngài xin Mẹ ban cho ngài cái lưỡi đã bị cắt mất, vì lòng yêu mến Mẹ, để ngài có thể ca hát vinh danh Đức Mẹ như xưa.

Đức Mẹ hiện ra với một cái lưỡi trong tay. Mẹ nói với cha, “Vì con đã mất lưỡi vì đức tin, và cũng do lòng kính mến con dâng Mẹ, Mẹ cho con một cái lưỡi mới.” Nói xong, Đức Mẹ gắn cái lưỡi vào miệng cha. Ngay lập tức, cha nói được và cất tiếng đọc kinh Kính Mừng. Các thày dòng tụ tập lại để chứng kiến phép lạ cả thể. Linh mục xin ở lại trong nhà dòng hầu tiếp tục cất tiếng ngợi khen cảm tạ Mẹ Maria. Vết sẹo trên lưỡi ngài vẫn còn đó.

57.  Năm 589 là năm mà nạn dịch hoành hành tại Rôma, nơi mà người ta chỉ bị sổ mũi hắt hơi, rồi lăn ra chết. Lúc Thánh Gregory the Great dẫn đầu một đoàn rước với ảnh Đức Mẹ Maria Major đi ngang (ảnh thuộc về nhà thờ tên là nhà thờ Thánh Angelo) thì ngài thấy một thiên thần trên không, vừa lắp kiếm vào vỏ mà máu vẫn còn chảy. Rồi ngài nghe thiên thần hát Kinh Truyền Tin, “Lạy Nữ Vương Thiên Đàng hãy vui mừng, Alleluia; Vì Đấng Mẹ đã đang cưu mang trong lòng. Alleluia; Người đã sống lại thật như lời đã phán hứa, Alleluia… Thánh Gregory đáp, “Ora pro nobis Deum, Alleluia.”  Tức thì, nạn dịch ngưng lại. Từ đó người ta bắt đầu mừng Lễ Thánh Marcô và hát Kinh Cầu các Thánh vào ngày 25 tháng Tư.

58.  Một lần kia thành Avignon bị chiếm bởi quân thù. Dân trong thành đặt một ảnh Đức Mẹ tại cổng thành để cầu khẩn xin Đức Mẹ bảo vệ. Khi một tên lính thấy một người dân trong thành đang trốn phía sau ảnh Mẹ thì bắn một mũi tên vào người này, và nói, “Để xem ảnh này có cứu mi khỏi chết hay không.” Lạ lùng thay, bức ảnh Đức Mẹ dơ đầu gối ra đỡ cho anh ta (vết tên vẫn còn tới ngày hôm nay), và cứu tôi tớ của Ngài. Quân thù đã trả lại thành vì đã qúa xúc động trước phép lạ.

59.  Tại thành Naples có một người nô lệ của Don Octavius del Monaco theo đạo Hồi giáo, mặc dù được khuyến khích bỏ tà đạo. Tuy không bỏ đạo anh ta luôn đặt một ngọn đèn trước ảnh Đức Mẹ trong nhà của chủ mình. Anh ta tự nhủ, “Hy vọng một ngày nào đó, Bà này sẽ ban cho mình một ân huệ lớn lao.” Một đêm, Đức Nữ Đồng Trinh hiện ra và cho anh ta biết là anh ta phải theo Chúa. Anh chàng người Thổ này vẫn từ khước. Đức Mẹ đặt tay trên vai anh ta và nói, “Đừng chống lại nữa Abel. Hãy xin rửa tội và đổi tên con thành Giuse.”

Sáng hôm sau, ngày 10 tháng Tám năm 1648 anh ta xin rửa tội cùng với 11 người Thổ khác. Thêm một chi tiết khác là sau khi Đức Mẹ đã cải hoán anh, và sắp biến đi thì anh nắm lấy tà áo Mẹ và nói, “Mẹ ơi, khi nào con gặp sự khó thì xin Mẹ cho con được thấy Mẹ.” Đức Mẹ hứa với anh điều này và khi nào anh xin thì Đức Mẹ liền hiện ra và nói, “Con hãy kiên nhẫn,” và anh đã tìm được niềm ủi an.

60.  Một chủng sinh tên Balwin tại Asella cứ bị cám dỗ là anh sẽ làm được nhiều điều tốt đẹp hơn cho tha nhân nếu anh bỏ nhà dòng và trở lại đời sống trần tục. Anh xin ra khỏi nhà dòng, và trước khi rời nhà dòng, Đức Mẹ hiện ra với hai chén rượu trong tay. Mẹ đưa cho anh ly thứ nhất. Nhưng anh gần như chỉ nhấp chứ không uống, mặc dù rượu ngon nhưng sao đầy những cấn. Khi nhấp chén rượu thứ hai, anh khen ngon và lại không có tí cấn nào. Đức Mẹ nói, “Con thấy đó, đời sống bên ngoài và bên trong của tu viện chỉ khác nhau là sự vâng lời.” Balwin đã kiên trì ở lại tu và chết như một nhà thầy dòng tốt lành.

61.  Một chủng sinh khác, chịu thua bởi cám dỗ, cũng muốn chấm dứt đời sống tu trì. Trước khi rời tu viện, anh ngừng lại trước ảnh Đức Mẹ để đọc một Kinh Kính Mừng. Bỗng nhiên anh cảm thấy như là bị đóng chặt xuống sàn nhà, không làm sao đứng dậy được. Anh ăn năn thống hối và hứa sẽ giữ lòng bền chí. Khi thoát ra được, anh xin cha Bề Trên tha thứ và ở trong dòng cho đến chết.

62.  Vì không muốn mất dịp đọc các kinh kính Đức Mẹ, Á Thánh Clement, một thày dòng Franciscan, đã không muốn theo các thầy khác để đi họp thì Đức Mẹ đã phán với ngài (qua ảnh Mẹ) là sự vâng lời khiến Mẹ vui hơn là sự sùng kính nào khác.

63.  Khi còn ở trong tu viện, ái nữ của Hoàng Đế Bohemia được Đức Mẹ hiện ra, “Hãy trổi dạy, hỡi Angela, và trốn sang Jerusalem vì cha của con đang muốn gả con cho một hoàng tử xứ Hung Gia Lợi.” Trinh nữ sùng đạo lên đường ngay lập tức và Đức Mẹ hiện ra với nàng và khuyến khích nàng tiếp tục cuộc hành trình. Khi đến Jerusalem các nữ tu dòng Carmelites đã chờ đón nàng. Sau này, Đức Mẹ ra lệnh cho Angela trở vể nguyên quán và sống đời thánh thiện cho đến chết.

64.  Thánh Gregory kể là có một nàng con gái tên là Musa, dù có lòng sùng kính Đức Mẹ đặc biệt, cũng không thoát khỏi những cám dỗ của các bạn đồng trang lứa. Vì quan tâm đến sự trong trắng Đức Mẹ hiện ra với nàng cùng với nhiều vị Thánh khác. Ngài hỏi, “Musa, con có muốn trở nên giống như các Thánh này không?”  Musa trả lời, “Con muốn.” Đức Mẹ phán, “Thế thì con phải xa lánh các bạn. Hãy sẵn sàng, trong một tháng nữa thôi con sẽ đi với Mẹ.”

Musa kể lại thị kiến và quyết định xa lánh những người bạn xấu. Ngày thứ 30 khi đang lâm chung thì Đức Mẹ hiện ra và gọi nàng. Musa trả lời, “Mẹ ơi, con đây,” và nhẹ nhàng thở hơi cuối cùng.

65.  Khi Ferdinand I, Công Tước nước Áo chết, phu nhân của ngài là Anna Caterina Gonzaga vào dòng Servites. Nàng đặt làm một vương miện có khắc những sự thuơng khó của Đức Mẹ và nói là với vương miện này, nàng từ bỏ mọi sa hoa trần thế, ngay cả việc từ chối không tái gía với Đại Đế Rodolph II.

Khi nghe tin em gái vừa đăng quang Hoàng Hậu, nàng nói, “Hãy để em ta vui hưởng triều thiên hoàng gia, vì y phục mà Mẹ Thiên Chúa mặc cho ta còn sang trọng hơn ngàn lần.” Đức Mẹ hiện ra với nàng nhiều lần, và nữ tu thánh thiện này đã có một cái chết thánh thiện.

66.  Khi chơi banh, vì sợ làm mất chiếc nhẫn do một bạn gái tặng, một chàng sinh viên đã treo chiếc nhẫn vào ngón tay của bức tượng Đức Mẹ gần đó. Ngay lập tức, anh hứa với Đức Mẹ là sẽ lìa xa cuộc đời trần tục và chọn Mẹ làm hôn thê của mình. Sau khi anh nói lời tuyên hứa, Đức Mẹ chạm vào ngón tay anh như là đã nhận lời. Ít lâu sau, khi anh muốn lập gia đình với một ngưòi con gái, Đức Mẹ hiện ra và nhắc đến lời hứa năm xưa. Đám cưới bị hủy bỏ và anh bỏ vào sa mạc, sống đời sống ẩn tu lành thánh cho đến hết đời.

67.  Năm 850, Berengarius, Giám Mục Thành Verdun tại Lorraine vừa đi vào một nhà thờ thì vấp vào chân của một linh mục tên Bernerio, khi ngài đang qùy trước ca đoàn để đọc Kinh Nhật Tụng kính Đức Mẹ. Đêm đó, Đức Mẹ hiện ra với vị Giám Mục và nói, “Sao con có thể đá vào chân đầy tớ Mẹ khi ngài đang đọc kinh chúc tụng Mẹ? Vì Mẹ thương yêu con, con phải đền tội này.” Chân của Đức Giám Mục càng ngày càng khô cứng lại, nhưng ngài sống và chết lành. Sau nhiều năm, thi thể của ngài vẫn còn nguyên vẹn không bị thối rữa, trừ chiếc chân khô.

68.  Một thanh niên đã tiêu tan hết gia tài của cha mẹ để lại, duy chỉ giữ lại sự thanh sạch cho riêng mình. Người cậu của chàng thấy cháu mình mất hết của cải vì tật xấu cho nên khuyên chàng đọc một đoạn kinh Mân Côi mỗi ngày. Ông nói nếu cậu chịu khó giữ thói quen tốt này thì ông sẽ giúp cậu có một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Người thanh niên kiên trì lần hạt và thay đổi đời sống.  Người cậu tìm cho cậu một cô gái.  Hai người chuẩn bị lập gia đình. Giữa tiệc cưới anh đứng dậy đi ra ngoài lần hạt. Khi lần hạt xong, Đức Mẹ hiện ra nói với anh: “Bây giờ Mẹ sẽ thưởng con vì con đã dâng lên Mẹ những ngợi khen. Hơn nữa, Mẹ không muốn con mất đức thanh sạch cho nên ba ngày nữa con sẽ chết, và con sẽ về cùng Mẹ nơi Thiên Đàng.” Anh kể thị kiến cho mọi người nghe, và qủa đúng như vậy, anh bị một cơn sốt, và vào ngày Thứ Ba anh đã ra đi một cách bình yên.

69.  Tác gỉa cuốn sách vinh danh Chuỗi Mân Côi tên là Sự Bí Mật của Mỗi Ân Sủng kể rằng lần kia Thánh Vincent Ferrer nói với một người vô vọng khi sắp chết: “Tại sao anh có thể hại mình khi Chúa Giêsu muốn cứu anh?” Anh ta trả lời là dù có Chúa Cứu Thế and cũng bị phạt. Vị Thánh trả lời, “Và anh, nhờ anh, anh sẽ được cứu rỗi.” Ngài bắt đầu xin mọi người trong gia đình cùng lần hạt với ngài. Lạ lùng thay, người bệnh xin được xưng tội, và với nước mắt ăn năn đã trút hơi thở cuối cùng.

70.  Cũng cùng tác gỉa nêu trên: Sau một trận động đất, một linh mục thuê người tìm kiếm những người sống sót thì họ kéo ra khỏi đống gạch đổ nát một bà mẹ và các con của bà. Khi được hỏi bà có thói quen lành thánh nào thì bà trả lời là bà không bao giờ bỏ lần hạt Mân Côi và viếng nhà nguyện Đúc Mẹ.

71.  Tác gỉa kể tiếp: Một người đàn bà được khuyên phó thác cuộc đời mình cho Đức Mẹ qua chuỗi Mân Côi mặc dù trước đó đã sống đời tội lỗi, vì tưởng rằng đó là một cách duy nhất kiếm tiền nuôi thân. Một đêm kia, Đức Mẹ hiện ra nói với nàng: “Hãy từ bỏ đường tội lỗi rồi mẹ sẽ lo liệu cho mọi sự.” Sáng hôm sau nàng xin Cha xưng tội, và từ đó được Đức Mẹ ban cho nàng mọi điều mong ước.

72.  Một người đã có can đảm từ bỏ đường tội lỗi sau khi lần hạt Mân Côi, vì Đức Mẹ đã giải thoát anh ta khỏi sự vây hãm của tội lỗi.

73.  Một người biết mình đang ở trong một mối liên hệ tội lỗi nhưng không biết làm sao thóat ra được. Sau, nhờ tràng hạt Mân Côi mà Đức Mẹ đã cứu anh rời xa cám dỗ.

74.  Một người đàn bà ghét chồng không giấy bút nào tả được. Trên giường bệnh và chờ chết, bà không biết là ông đã rút vào một nơi thanh vắng để lần hạt cho mình. Nhờ đó lòng bà đã dịu lại và thấy được tội lỗi của mình và ăn năn.

75.  Sau cùng, cũng một tác giả kể lại là sau khi giảng phòng cho những tù nhân tại Naples thì vài người nhất định không chịu xưng tội. Cha khuyên họ ít nhất ghi tên vào nhóm lần hạt Mân Côi. Họ nghe lời cha, và chỉ sau khi lần một chuỗi cả nhóm ao ước đi xưng tội, lần đầu tiên sau bao nhiêu năm. Những thí dụ điển hình này cho chúng ta thấy là Đức Mẹ luôn luôn ra tay cứu giúp những ai chạy đến cùng Mẹ, thời xưa cũng như thời nay.

76.  Thánh Gregory kể là có một Giám Mục thành Ferento có lòng thương kẻ nghèo từ bé. Một ngày kia, cháu của ngài là linh mục cất 10 đồng tiền vàng vào tủ và khoá kỹ càng. Tình cờ làm sao, sau đó có vài người đến xin Đức Giám Mục giúp họ qua cơn túng quẩn. Ngài phá tủ, lấy hết tiền vàng ra và phân phát cho những người này.

Khi cha cháu biết chuyện, ngài rất lấy làm phiền. Không biết làm sao trả tiền vàng lại cho cháu, Đức Giám Mục cầu cứu cùng Đức Mẹ. Lạ thay, ngài thấy 10 đồng tiền vàng nằm kế bên tượng Mẹ. Mừng qúa, ngài đem 10 đồng tiền trả lại cho người cháu.

77.  Khi đi ngang qua một nhà nguyện nhỏ Công Giáo một phụ nữ người Đức theo đạo Lutheran đã vào viếng vì tò mò. Bà thấy một bức ảnh Đức Mẹ ôm Chúa Giêsu Hài Đồng trong tay. Xúc động trước hình ảnh Mẹ bà muốn hiến dâng Mẹ một vật gì. Khi về nhà bà lựa một miếng vải lụa đẹp nhất và đem đến kính dâng lên đài Đức Mẹ. Đức Mẹ đã soi sáng cho bà thấy sự sai lầm của đạo mà bà theo bao lâu nay. Lập tức bà đi tìm một vài người Công Giáo và xin theo đạo.

78.  Tại thành Cesena có hai người bạn cùng tội lỗi như nhau. Một người tên là Bartholomew, dù sống đời tội lỗi luôn luôn hát bài thánh ca an ủi Đức Mẹ Sầu Bi mỗi ngày. Một lần kia, sau khi hát xong thì anh ta thấy một thị kiến. Anh thấy người bạn và anh đứng trong một con rạch đầy lửa đỏ. Trong cơn tuyệt vọng anh thấy Đức Mẹ đưa tay kéo anh ra khỏi nơi đó. Ngài còn khuyên anh xin Chúa Giêsu tha tội, vì Người sẵn sàng nhận lời cầu bầu của Mẹ Chí Thánh Người.

Ngay khi thị kiến chấm dứt Bartholomew nghe hung tin là người bạn đã chết vì một vết thương do ai đó gây ra. Anh biết ngay thị kiến không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng của mình, cho nên anh xin vào dòng Capuchins, sống một cuộc đời ẩn dật và để lại danh thơm lành thánh sau khi qua đời.

79.  Á Thánh Jerome, người sáng lập Dòng Các Cha Sommaschian, đã bị bắt vào ngục tối. Ngài cầu xin Đức Mẹ cứu và hứa sẽ hành hương Treviso nếu được tự do. Đức Mẹ hiện ra, tháo xiềng xích và đưa cho ngài chìa khoá ngục. Sau khi ra khỏi ngục, ngài lên đường đi đến Treviso. Tiếc thay, lại một nữa ngài bị rơi vào tay kẻ thù. Ngài lại xin Đức Mẹ cứu và Mẹ lại hiện ra, không những dắt ngài ra khỏi sự bao vây của kẻ thù, mà còn đưa ngài đến tận cổng thành Treviso. Sau khi viếng thánh địa, ngài để lại xiềng xích nơi bàn thờ Đức Mẹ và dâng mình cho đời sống đạo. Giáo Hội nâng ngài lên bậc hiển thánh, cùng với các Thánh khác.

80.  Một linh mục có lòng sùng kính Mẹ Sầu Bi đặc biệt hay ở lại sau Thánh Lễ để suy gẫm sự thương khó của Đức Mẹ và dùng khăn lau những giọt lệ từ tượng Mẹ Sầu Bi. Khi ngài bị đau nặng đến nỗi các y sĩ đều bó tay thì ngài thấy một phụ nữ rất xinh đẹp đến bên giường bệnh. Bà an ủi ngài và dùng khăn tay nhẹ nhàng lau những giọt mồ hôi trên trán ngài. Ngay lúc đó ngài thấy mình khỏe hẳn. Ngài hỏi: “Bà là ai mà tử tế với con qúa sức vậy?” “Ta là người mà con đã lau những giọt lệ cho từ bao lâu nay,” Đức Mẹ trả lời. Nói xong, Mẹ biến mất.

81.  Một phú nữ qúy tộc đã tha cho kẻ giết người con trai duy nhất của mình, vì nhớ lại ngày xưa Đức Mẹ đã tha cho những kẻ đã giết Con Cực Thánh của Ngườ. Không những tha cho tên sát nhân (tên này đã lẩn trốn trong lâu đài của bà), bà còn cho người mang một con ngựa khỏe tốt và tiền đi đường cùng với quần áo để hắn trốn đi.

Người con hiện về cho biết là nhờ sự tha thứ và lòng rộng lượng của bà, Đức Mẹ đã xuống đem cậu về Trời (đáng lẽ cậu phải ở Luyện Ngục rất lâu năm).

82.  Thánh Bionda cũng hành động tương tự khi quân thù giết người con trai duy nhất của ngài, vì ghét người cha đã qúa vãng của cậu. Kinh khủng hơn nữa là chúng moi tim cậu ra và đưa cho ngài ăn. Thánh bắt chước gương Đức Mẹ và bắt đầu cầu nguyện cho kẻ giết con mình. Hành động này đã làm vui lòng Đức Mẹ. Ngài soi sáng Bionda để bà gia nhập hội các bà mẹ Dòng Servites. Bà sống một cuộc đời lành thánh và làm bao nhiêu phép lạ trước và sau khi về Trời.

83.  Khi nghe vài thanh niên khoe thành tích ái tình, Thomas of Canterbury lúc còn trẻ cũng khoe Đức Trinh Nữ Maria là người yêu của mình. Sau đó, ngài hối hận vì đã nói ra điều này. Đức Mẹ hiện ra và với sự dịu dàng âu yếm. Người hỏi:”Thomas, con sợ gì? Con có lý do để khoe là con yêu Mẹ và Mẹ yêu con. Hãy bảo đảm với các bạn điều này và để chứng minh lòng Mẹ thương con, con hãy cho họ coi món qùa mà Mẹ làm cho con đây.” Đó là một hộp gỗ nhỏ chứa một chiếc áo Lễ mầu đỏ máu. Đây là sự dấu hiệu ngài sẽ thụ phong linh mục và sẽ chịu chết vì đạo.

Cuộc đời tu trì của ngài bắt đầu như đã được tiên báo. Sau khi trở thành Đức Giám Mục Canterbury ngài bị vua nước Anh bắt. Ngài trốn vào tu viện Cistercian ở Pontignac bên Pháp. Trong thời gian tạm trú ở đây ngài cố gắng vá chiếc áo nhậm mà không làm sao vá cho khéo. Đức Mẹ hiện ra và vá áo cho ngài. Sau đó, ngài trở về Canterbury và chịu tử đạo tại đây.

84.  Một cô gái rất yêu mến Đức Mẹ đã gặp một tên thủ lãnh của một đảng cướp. Lo sợ sẽ bị hãm hiếp, nàng xin tên này, vì lòng yêu mến Đức Mẹ mà tha cho cho cô. Tên tướng cướp trả lời, “Nàng đừng sợ, nhân danh Đức Mẹ mà nàng đã cầu nguyện cho ta, xin đưa ta đến cùng Người.” Sau đó hắn đưa nàng đến chỗ an toàn.

Đêm hôm sau Đức Mẹ hiện ra với tên tướng cướp, cám ơn hắn đã cư xử tốt đẹp và một ngày kia sẽ trả ơn hắn. Một thời gian sau tên cướp bị bắt và bị kết án tử hình. Đêm trước khi bị đem đi xử tử, Đức Mẹ hiện ra với hắn:” Con có biết Ta là ai không?” Hắn trả lời, “Nhìn bà quen lắm, hình như con có gặp bà ở đâu rồi.” “Ta là Trinh Nữ Maria,” Đức Mẹ trả lời, và Người nói tiếp,”Ta đến trả ơn con vì con đã làm cho Ta một điều tốt lành xưa kia. Ngày mai con sẽ chết, nhưng vì con chết trong ăn năn cho nên con sẽ lên Thiên Đàng ngay lập tức.”

Người tử tội thức giấc và cảm thấy hối hận vì những tội mình đã phạm và khóc lóc thảm thiết. Anh xin được xưng tội và đã xưng các tội mình ra trong nước mắt ràn rụa. Anh kể lại giấc mơ và xin cho mọi người biết. Anh vui vẻ đi đến pháp trường với nét mặt bình an và sung sướng. Mọi người tin rằng lời hứa của Mẹ Thiên Cung đã thành sự thật.

85.  Thánh Joachim Piccolomini có lòng sùng kính Đức Mẹ từ thuở bé và hay viếng Đức Mẹ Sầu Bi ba lần một ngày tại nhà thờ ở làng kế cận. Ngài còn ăn chay nguyên ngày Thứ Bẩy để tôn vinh Mẹ. Thêm nữa, ngài thức dậy lúc nửa đêm để suy gẫm các sự thuơng khó của Đức Mẹ. Chúng ta hãy xem Đức Mẹ trọng thưởng ngài ra sao.

Trước tiên, Người hiện ra với Joachim khi còn là cậu bé và hướng dẫn cậu vào Dòng Đầy Tớ Đức Mẹ. Khi ngài về già Đức Mẹ hiện ra với hai triều thiên trong tay: một chiếc có đính ngọc rubi để thưởng cho lòng yêu mến tột độ sự thương khó của Đức Mẹ. Triều thiên thứ hai đính ngọc trai, vì ngài đã giữ lòng thanh sạch. Khi sắp chết Đức Mẹ hiện ra với ngài. Ngài xin Đức Mẹ cho chết vào ngày mà Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng. Đức Mẹ an ủi ngài và Người cho biết thêm, “Hãy sẵn sàng, ngày mai (Thứ Sáu) con sẽ chết bất ngờ như ý con muốn, và con sẽ cùng Ta trên Thiên Đàng.”

Thế là sự việc xẩy ra như lời Đức Mẹ đã phán. Sau khi mọi người hát câu “Kìa Mẹ Người đứng dưới chân Thánh Giá” thì Joachim tắt thở. Và khi mọi người hát đến câu “Và Người đã gục Đầu và thở hơi cuối cùng” thì cả nhà thờ được bao phủ bởi một ánh sáng rực rỡ với một mùi hương dịu dàng.

86.  Khi sắp chết Cha Alphonso Salmerone, linh mục Dòng Tên đã nói: “Hạnh phúc thay những giờ phút con được phục vụ Đức Mẹ Maria! Phúc thay nhũng bài giảng, nhũng khó nhọc, những tư tưởng con dâng lên Mẹ. Thiên Đàng ơi. Thiên Đàng ơi!”

87.  Công tử Guido ao ước vào Dòng Camaldoli, và thân phụ của chàng là hoàng tử Farnulf hân hoan dâng con vào nhà dòng. Thánh Romuald là tu viện trưởng nhận tu sinh với lòng sung sướng vô biên. Một hôm Đức Mẹ hiện ra với chàng trẻ tuổi, trong tay ôm Đức Chúa Giêsu Hài Đồng. Đức Mẹ kéo chàng đến gần khi thấy Guido run sợ trước ân huệ qúa lớn lao. Mẹ nói, “Sao con nghi ngờ? Con sợ gì, hỡi Guido? Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, đây là Giêsu con Mẹ, Ngài muốn đến cùng con.” Khi nói tới đây Mẹ đặt Chúa Giêsu vào tay ngài.

Khi vào nhà dòng được 3 năm thì Guido lâm bệnh nặng. Thánh Romuald thấy thầy chủng sinh run sợ như thấy một hình ảnh gì hãi hùng lắm. Ngài nghe thầy hỏi, “Cha ơi, cha có thấy những kẻ Hồi Giáo trong phòng này không?” Ngài liền hỏi, “Con ơi, con có còn điều gì mà con chưa xưng ra không?” “Có, người thanh niên trả lời, con không vâng lời bề trên, khi ngài bảo con phải nhặt những cái chổi mà con đã không nhặt. Giò đây, con xin xưng tội này.” Cha Romuald tha tội cho chủng sinh này và khung cảnh trong phòng thay đổi ngay lập tức. Ma qủy biến mất và Đức Mẹ hiện ra với Chúa Giêsu, đón Guido ra đi trong an bình.

88.  Khi được Đức Mẹ hiện ra trước giờ chết của một nữ tu tên Mary, thuộc dòng Cistercian ở Toledo thì cô xin Đức Mẹ cho cô được chết cùng giờ Đức Mẹ chết. Đức Mẹ nhận lời. Người nói, “Con sẽ được toại ý, và con còn được nghe những bài hát mà các Thánh chúc tụng Mẹ khi Mẹ về Thiên Đàng.” Khi các nữ tu khác nghe chị nói chuyện một mình thì cứ nghĩ chị đang hôm mê. Chị cho mọi người biết về thị kiến và hồng ân chị sắp nhận được, cũng như sự đợi chờ ngày giờ mà chị sẽ trút hơi thở cuối cùng. Đúng vào lúc đồng hồ gõ giờ chị sắp sửa ra đi, chị nói với các nữ tu khác,”Chị em ơi, giờ đã đến. Em nghe tiếng nhạc thiên thần và giờ này Nữ Vương của em đang ngự xuống từ Trời.  Hãy nghỉ yên, em đi với Người đây.” Nói xong, chị thở hơi cuối cùng với đôi mắt sáng như ngàn vì sao với gương mặt rực rỡ hân hoan.

89.  Vào thế kỷ thứ 8, tại thành Sens bên Pháp có một nàng thiếu nữ khuê các có lòng yêu mến Đức Mẹ đặc biệt. Sau đó cô đi tu. Khi tới giờ lâm chung, thiếu nữ thấy Thánh Cecilia và Thánh Lucia đứng bên cạnh giường. Cô hỏi, “Chào các chị.  Các chị đem tin gì cho em từ Nữ Vương?”  Hai Thánh trả lời, “Ngài đang đợi em trên Thiên Đàng đó.”

Sau đó ma qủy cũng hiện ra với cô. Nhưng cô đã mạnh dạn đuổi nó đi, “Hỡi con quái vật, mi định làm gì ta, một nữ tì của Chúa Giêsu?” Sau khi nhận các Bí Tích sau hết, cô nhìn về hướng cửa và nói, “Mẹ Thiên Chúa đang đến đón em.  Các chị ơi, em xin dâng các chị cho Mẹ.  Vĩnh biệt.  Chúng ta sẽ không còn thấy nhau nữa.” Nói xong, nàng giơ hai tay ra như ôm lấy Đức Mẹ và thở hơi cuối cùng. 

90.  Tại Ấn Độ, có một người đàn ông đang định rời nhà để đi phạm tội, thì nghe có tiếng nói, “Hãy ngừng lại, con đi đâu vậy?”  Anh ta quay lại thì thấy từ mẫu ảnh chạm nổi Đức Mẹ Sầu Bi, Đức Mẹ kéo lưỡi đòng nơi ngực ra và phán: “Thà con dùng lưỡi đòng này đâm vào tim ta, còn hơn là gây thương tích cho Con ta với tội con sắp phạm.”  Khi nghe thấy điều này, người thanh niên qùy xụp xuống và khóc lóc thảm thiết và anh xin Chúa và Đức Mẹ tha tội cho mình.

91.  Một thanh niên trẻ đã hứa với ma qủy là nếu nó giúp anh ta phạm một tội mà anh muốn phạm thì anh ta sẽ bán linh hồn cho nó. Anh ta còn đưa cho hắn mảnh giấy ký nợ với chữ ký bằng chính máu của mình. Sau khi tội đã phạm, tên qủy muốn anh ta trả món nợ đã hứa. Nó đem anh ta đến một cái giếng và đe sẽ mang cả hồn lẫn xác anh ta nếu anh không đâm đầu xuống giếng. Chàng thanh niên nghĩ không có cách gì chống lại tên kẻ thù, bèn trèo đến bên cạnh giếng để nhẩy xuống. Tuy nhiên, vì qúa kinh hãi với cái chết sắp đến nơi, anh ta bảo tên qủy hãy xô anh ta đi chứ anh ta không có can đảm làm chuyện ấy.

Thanh niên này thường đeo mẫu ảnh Đức Mẹ Sầu Bi. Tên qủy bảo, “Mi hãy tháo ảnh ra thì ta sẽ đẩy mi xuống giếng.” Người thanh niên cảm nhận được sự bao bọc của Đức Mẹ từ ảnh cho nên từ chối tháo ảnh ra. Sau một lúc giằng co tên qủy bỏ đi trong bối rối. Kẻ tội lỗi ăn năn và dâng lên bàn thờ mẹ nguyên câu truyện của anh ta, tại nhà thờ Santa Maria ở Perugia.

Leave a Reply