Một người mục đồng bước ra cửa. Ông giơ tay lên trên trán để che mắt và nhìn trời. Thường thì người ta không cần phải tránh ánh trăng, nhưng hôm nay nó quá mạnh tới nỗi nó làm chói mắt, đặc biệt là với người từ trong nhà ra, đang quen với bóng tối. Tất cả đều yên tĩnh, nhưng ánh sáng này thực đáng ngạc nhiên. Người mục đồng gọi các bạn ông. Tất cả đều ra cửa: một nhóm người bù xù thuộc mọi lứa tuổi. Có những thiếu niên và những người tóc bạc. Họ bình luận sự kiện kỳ lạ, và những người trẻ tuổi nhất sợ hãi, đặc biệt là một cậu con trai chừng mười hai tuổi bắt đầu khóc, lôi kéo sự chế nhạo của những người già hơn.

 – Mày sợ cái gì? Sao mày ngu vậy? – mấy người già hơn nói với cậu. “Mày không thấy là không khí yên tĩnh sao? Mày chưa bao giờ thấy trăng sáng à? Mày vẫn còn luôn luôn ở dưới váy má mày giống như con gà con ở dưới con gà mái ấp? Nhưng mày sẽ thấy các sự đời! Có lần tao tới các ngọn núi Liban, còn xa hơn nữa cơ. Tao lên dốc. Lúc đó tao còn trẻ và tao không mệt khi đi bộ. Hồi đó tao cũng còn giàu… Một đêm tao nhìn thấy một ánh sáng đến nỗi tao nghĩ rằng Êlia trở về với chiếc xe bằng lửa của ông. Tất cả bầu trời đều bị cháy. Một ông già – ông già chính là ông ta – bảo tao: ‘Một biến cố lớn sắp xảy ra trong thế gian’. Và đối với chúng ta, biến cố là: Lính Rôma tới. Ôi! Mày sẽ thấy nếu mày còn sống…”

 Nhưng người mục đồng nhỏ không nghe ông nữa. Cậu ta không còn có vẻ sợ. Quả thực, cậu ta rời ngưỡng cửa và lẻn ra sau lưng một người mục đồng vạm vỡ, cậu ta nấp ở đó, rồi đi ra công viên ở đàng trước nhà kho. Cậu nhìn trời và bước như người mộng du hay như người bị thôi miên bởi cái gì đã bắt lấy cậu hoàn toàn. Rồi một lúc sau cậu ta kêu lên: “Ôi!” và cậu ta bị trồng như tượng đá, hai tay hơi giang ra. Những người khác nhìn nhau ngạc mhiên. Một người nói: “Nhưng thằng ngu này làm sao vậy?”

 – Ngày mai tôi sẽ dẫn nó về cho mẹ nó. Tôi không muốn một thằng điên giữ bầy cừu – một người khác nói.

 Lúc đó ông già đã nói lúc trước nói: “Chúng ta hãy tới coi trước khi xét đoán. Hãy gọi cả những người khác và mang theo gậy. Có thể có một con thú dữ hay các tên trộm cướp”.

 Họ trở vào, họ gọi những người mục đồng khác và trở ra với các bó đuốc và dùi côn. Họ lại chỗ đứa trẻ.

 – Kìa! Kìa! – đứa bé mỉm cười và nói thầm. “Ở bên trên ngọn cây, hãy nhìn ánh sáng đang tới, giống như nó tiến đi trên một tia sáng của mặt trăng. Kìa, nó lại gần. Ôi! Nó đẹp chừng nào!”

 – Tôi, tôi chỉ thấy một ánh sáng hơi mạnh hơn.

 – Tôi cũng vậy.

 – Tôi cũng vậy – những người khác nói.

 – Không. Tôi thấy cái gì như thân mình người ta – một người khác nói, và tôi nhận ra đó là người mục đồng đã biếu sữa cho Maria.

 – Đó là… Đó là một thiên thần – đứa trẻ kêu lên. “Đó, Người xuống và tiến lại… Xuống đất! Hãy quì gối trước thiên thần của Thiên Chúa”.

 Một tiếng “Ôi” kéo dài và kính trọng vang lên từ đám mục đồng quì gối sấp mặt xuống đất. Họ có vẻ như người càng già thì càng xúc động bởi việc hiển hiện. Người trẻ nhất quì và nhìn thiên thần càng lúc càng lại gần, rồi dừng lại ở bên trên bức tường bao vây, lơ lửng trên không. Người giang rộng đôi cánh lớn, trắng toát như ngọc trai trong ánh sáng trắng của mặt trăng bao phủ Người.

 – Đừng sợ. Ta không mang sự dữ cho các con đâu. Ta mang cho các con một tin về một niềm vui vĩ đại cho Israel và cho tất cả các dân tộc trên trái đất. – Tiếng nói thiên thần là cung đàn cầm du dương với tiếng hót họa mi đệm theo.

 “Hôm nay Đấng Cứu Tinh đã sinh ra trong thành của Đavít”. Với những tiếng này, thiên thần giang đôi cánh ra rộng hơn và vẫy như một sự nhảy mừng, và một làn mưa các tia vàng lấp lánh như các đá quí tỏa ra từ cánh Người. Một chiếc cầu vồng thực sự vẽ một vòng cung chiến thắng ở bên trên cái công viên bần cùng.

 “… Đấng Cứu Tinh là Đức Kitô”. Thiên thần sáng láng bằng ánh sáng rực rỡ hơn. Đôi cánh người bây giờ ngừng đập và hướng về trời giống như hai cánh buồm bất động trên mặt biển mầu lam ngọc, giống như hai ngọn lửa bốc lên mạnh mẽ.

 “… Đức Kitô là Chúa”. Thiên thần xếp cánh bằng ánh sáng lại và phủ lấy thân, giống như tấm áo choàng bằng kim cương bên trên chiếc áo trong bằng ngọc trai. Người cúi xuống như để thờ lạy, tay ôm lấy ngực, khuôn mặt không nhìn thấy nữa, vì người cúi sâu trên ngực, trong bóng của đôi cánh xếp lại. Người ta chỉ còn nhìn thấy một hình dáng dài, sáng láng, bất động trong khoảng thời gian đọc một kinh vinh danh.

 Nhưng đây, người lại nhúc nhích. Người lại mở cánh và ngửa mặt, nơi ánh sáng rạng ngời trong một nụ cười Thiên Quốc, và người nói: “Các con sẽ nhận ra Người bằng dấu này: Trong một cái chuồng súc vật nghèo ở phía sau Bétlem, các con sẽ thấy một trẻ sơ sinh bọc trong tã, nằm trong chiếc máng của súc vật, bởi vì không có một mái nhà cho Đấng Mêsia ở trong thành của Đavít”. Khi nói như vậy, thiên thần trở nên nghiêm trang, kể cả có vẻ buồn.

 Nhưng từ trời, có một đám đông tới – Ôi! Đông chừng nào! – Một đám đông các thiên thần giống như thiên thần này. Một dẫy các thiên thần bay xuống trong sự hân hoan, làm lu mờ mặt trăng bằng ánh sáng Thiên Đàng của các ngài. Các đấng họp đoàn với thiên thần loan tin, vẫy cánh tỏa ra hương thơm với những cung nhạc du dương, trong đó có tất cả những giọng ca hay nhất trong tạo vật, nhưng phải nâng nó lên tới đỉnh trọn lành của các âm thanh. Nếu hội họa là cố gắng của vật chất để trở nên ánh sáng, thì ở đây, sự du dương là cố gắng của âm nhạc để diễn tả cho con người về vẻ đẹp của Thiên Chúa, nghe sự du dương này là biết Thiên Đàng, nơi tất cả đều hòa hợp trong tình yêu từ Thiên Chúa ban mình ra, lan tỏa để làm hạnh phúc cho các thánh, rồi lại từ các thánh trở về với Thiên Chúa để nói: “Chúng con yêu Chúa”.

 Kinh vinh danh của các thiên thần tỏa ra thành những làn sóng càng lúc càng lan rộng trên miền quê yên tĩnh, cũng như ánh sáng. Chim chóc hòa tiếng để chào ánh sáng đến sớm, và chiên cừu kêu bê bê để chào mặt trời mọc trước giờ. Nhưng tôi, cũng như đối với con lừa và con bò ở trong hang đá, tôi thích tin là các con vật chào đón Đấng Tạo Hóa của chúng, đã đến ở giữa chúng để yêu chúng như người ta yêu, và hơn nữa, như Thiên Chúa yêu.

 Tiếng hát cũng như ánh sáng giảm bớt khi các thiên thần lại bay lên trời… Các mục đồng hoàn hồn.

 – Anh có nghe không?

 – Chúng ta đi coi không?

 – Còn các con vật?

 – Ôi, chúng chẳng sao đâu. Chúng ta hãy đi để vâng theo tiếng nói của Thiên Chúa!…

 – Nhưng đi đâu?

 – Thiên thần đã chẳng nói rằng hôm nay Người sinh ra và Người không tìm được chỗ trú ở Bétlem sao? – Người mục đồng đã cho sữa nói. “Đi, tôi biết. Tôi đã gặp người đàn bà, và bà làm tôi thấy tội nghiệp. Tôi đã chỉ một nơi cho bà, bởi vì tôi nghĩ rằng chắc chắn bà không tìm ra chỗ trọ, và tôi đã đưa sữa cho người đàn ông để cho bà uống. Bà còn rất trẻ và rất đẹp. Chắc chắn bà tốt giống như thiên thần đã nói với chúng ta. Đi! Đi! Chúng ta hãy đi lấy sữa và phó mát, các con chiên và các mảnh da thuộc. Chắc là các đấng rất nghèo và… Ai biết được đấng mà tôi không dám gọi tên đã bị lạnh chừng nào! Và hãy nghĩ rằng tôi đã nói với bà mẹ như với một bà vợ tội nghiệp!…”

 Họ trở về nhà kho rồi sau một lúc trở ra, kẻ thì mang các bình đựng sữa, người thì những cục phó mát tròn bọc trong các lưới bằng cỏ lác; người thì những cái rổ, có một con cừu kêu bê bê, kẻ thì các tấm da cừu thuộc.

 – Tôi mang theo một con cừu mới đẻ một tháng nay. Sữa của nó tuyệt vời. Nó sẽ ích lợi cho ông bà nếu họ thiếu sữa. Tôi thấy bà giống như một con nít và rất xanh xao!… Với nước da hoa lài dưới trăng sáng – người mục đồng cho sữa nói, và ông dẫn tất cả đi.

 Họ ra đi dưới ánh trăng và các ngọn đuốc, sau khi đã đóng cửa nhà kho và hàng rào. Họ đi theo các lối mòn của đồng quê, băng qua các hàng dậu bằng cây gai trơ trụi về mùa đông. Họ đi vòng Bétlem và tới chuồng bò lừa, không bằng con đường mà Maria đã đi, nhưng bằng hướng ngược lại. Như vậy họ không đi qua các hang tốt hơn, nhưng tìm thấy ngay chỗ ẩn náu mà họ muốn tìm. Họ tới gần cửa hang:

 – Vào đi!

 – Tôi, tôi không dám.

 – Anh, vào đi.

 – Không.

 – Ít là phải coi xem sao.

 – Lêvi, mày đã nhìn thấy thiên thần trước tiên, điều đó có nghĩa là mày tốt hơn tất cả chúng ta, hãy nhìn coi – Thực sự ban đầu họ đã cho cậu bé là điên… Nhưng bây giờ cậu hữu ích cho họ, vì cậu dám làm điều mà họ không dám làm.

 Đứa trẻ ngập ngừng, nhưng rồi nó quyết định… Nó tới gần chỗ trú, hơi vén cái áo khoác ra…và nó dừng lại, xuất thần!

 – Mày thấy gì? – những người khác lo lắng hỏi nhỏ.

 – Tôi thấy một người đàn bà rất trẻ và rất đẹp, và một người đàn ông cúi xuống trên cái máng cỏ, và tôi nghe… Tôi nghe một trẻ sơ sinh khóc, và người đàn bà nói với nó bằng giọng… Ôi! một giọng nói tuyệt vời!

 – Bà nói gì?

 – Bà nói: “Giêsu, bé tí của má! Giêsu, tình yêu của má! đừng khóc, con nhỏ của má”. Bà nói: “Ôi! nếu má có thể nói với con: hãy bú sữa, bé tí của má! Nhưng má chưa có sữa”. Bà nói: “Tình yêu của má! con lạnh quá à? Rơm cỏ chích con! Đau đớn chừng nào cho má của con phải nghe con khóc như vầy mà không thể làm dễ chịu cho con”. Bà nói: “Ngủ đi, linh hồn nhỏ của má! Trái tim má vỡ ra vì nghe con và nhìn thấy nước mắt của con”. Bà hôn đứa bé và ủ nóng cho bàn chân của bé bằng bàn tay của bà. Bà cúi xuống và để hai tay trên máng cỏ.

 – Gọi đi. Hãy cho họ biết là mày ở đây.

 – Tôi, không. Đúng hơn là anh, đã dẫn chúng tôi và biết bà.

 Người mục đồng mở miệng để gọi, nhưng chỉ giới hạn ở một tiếng xít xoa mạnh.

 Giuse quay lại và đi ra cửa: “Quí vị là ai?”

 – Các mục đồng. Chúng tôi mang cho các ngài lương thực và len ấm. Chúng tôi đến thờ lạy Đấng Cứu Tinh.

 – Vào đi.

 Họ vào trong chuồng, soi sáng bằng ngọn đuốc của họ. Các người già đẩy các người trẻ cho đi ở đàng trước họ.

 Maria quay lại và mỉm cười. Cô nói: “Xin vào! Xin vào!” Và cô mời họ bằng bàn tay và bằng nụ cười của cô. Cô cầm tay đứa con trai đã thấy thiên thần và kéo nó lại với cô tới tận bên máng cỏ. Đứa trẻ nhìn, hớn hở mừng.

 Những người khác được Giuse mời, tiến vào với các lễ vật của họ. Rồi với những lời vắn tắt cảm động, họ để các thứ bên chân Maria. Rồi họ nhìn bé tí khóc êm êm, họ mỉm cười, cảm động sung sướng.

 Rồi một người trong số họ mạnh bạo hơn, nói: “Cầm lấy đi mẹ, nó mềm và sạch sẽ. Con sửa soạn nó cho đứa bé sắp sinh trong nhà con, nhưng con biếu cho mẹ. Hãy đặt con Mẹ vào tấm len này, nó mềm và ấm”. Và ông dâng tấm da cừu, một mảnh da rất đẹp với bộ lông trắng tinh.

 Maria đỡ Giêsu lên và quấn nó cho Người. Cô cho các mục đồng coi Người. Họ quì gối dưới đất, trên ổ rơm, nhìn Người như xuất thần.

 Họ cảm thấy mạnh dạn hơn và một người đề nghị: “Phải cho Người một ngụm sữa, hay tốt hơn là nước pha mật ong. Nhưng chúng ta không có mật ong. Người ta thường cho trẻ sơ sinh uống như vậy. Tôi có bảy đứa con nên tôi biết”.

 – Thưa bà sữa đây, xin bà nhận.

 – Nhưng nó lạnh, phải có sữa nóng. Êlia đâu? Ông ta có con cừu.

 Chắc Êlia là người đã cho sữa. Nhưng ông không ở đó. Ông dừng lại ở bên ngoài, nhìn qua khe hở, rồi biến mất trong bóng đêm.

 – Ai dẫn quí vị tới đây?

 – Một thiên thần bảo chúng con tới, và Êlia dẫn đường cho chúng con. Nhưng bây giờ ông ta đâu rồi?

 Một tiếng bê bê của con cừu đã tiết lộ ông.

 – Vào đi, người ta hỏi anh đó.

 Ông ta vào cùng với con cừu, rụt rè vì là người bị lưu ý nhất.

 – Anh à? – Giuse nói khi nhận ra ông. Maria cũng mỉm cười và nói: “Anh rất tốt”.

 Họ vắt sữa con cừu. Maria nhúng một chút góc chiếc khăn tay vào sữa nóng sủi bọt và rơ môi cho chú bé, chú mút lấy chất kem ngon. Tất cả họ đều mỉm cười, và họ buồn cười hơn khi thấy Giêsu ngủ ngay trong sự ấm áp của vải len với mảnh khăn còn ngậm trên môi.

 – Nhưng ông bà không thể ở đây được. Trời lạnh và ẩm thấp. Lại nữa… Toàn mùi súc vật. Như vầy không được… Không được đối với Vị Cứu Tinh.

 – Tôi biết – Maria nói với một cái thở dài thật mạnh. “Nhưng không có chỗ cho chúng tôi trong thành Bétlem”.

 – Ôi! Bà, can đảm lên. Chúng tôi sẽ kiếm cho bà một căn nhà.

 – Tôi sẽ nói với bà chủ – người cho sữa (Êlia) nói. “Bà ta rất tốt, bà ta sẽ đón nhận ông bà. Bà ta phải nhường phòng của bà ta cho quí vị. Khi trời vừa sáng, tôi sẽ nói với bà ấy. Nhà bà đã đầy hết, nhưng bà ấy sẽ cho quí vị một chỗ”.

 – Ít nhất là cho đứa bé. Tôi với Giuse có phải tiếp tục nằm dưới đất cũng không sao. Nhưng cho hài nhi…

 – Bà ơi, đừng lo, tôi sẽ nghĩ tới đó. Tôi sẽ kể cho rất nhiều người điều chúng tôi đã được nghe. Quí vị sẽ không thiếu thốn gì. Lúc này thì hãy nhận lấy những gì sự nghèo nàn của chúng tôi có thể biếu cho ông bà. Chúng tôi là các mục đồng…

 – Chúng tôi cũng là những người nghèo – Giuse nói. “Và chúng tôi không thể đền bù cho các anh em được”.

 – Ôi! Chúng tôi không muốn. Dù là ông bà có thể, chúng tôi cũng không muốn. Chúa đã thưởng cho chúng tôi rồi. Người đã hứa bình an cho mọi người. Các thiên thần đã nói: “Bình an cho những người có thiện chí”, nhưng với chúng tôi thì Người đã ban rồi, vì thiên thần đã nói rằng trẻ này là Đấng Cứu Tinh, là Đức Kitô, là Chúa. Chúng tôi nghèo nàn và ngu dốt, nhưng chúng tôi biết rằng các Tiên Tri đã nói Đấng Cứu Tinh sẽ là Chúa Bình An, và thiên thần đã bảo chúng tôi đến thờ lạy Người. Như vậy là Người đã ban bình an cho chúng tôi. Vinh danh Thiên Chúa trên trời cao thẳm, và vinh danh Đấng Kitô của Người! Và Bà! Hãy được phúc, người đàn bà đã sinh ra Người. Bà là thánh, vì bà đã đáng cưu mang Người. Hãy truyền lệnh cho chúng tôi như một Bà Hoàng, vì chúng tôi rất bằng lòng để phục vụ bà. Chúng tôi có thể làm gì cho Bà?

 – Hãy yêu con tôi, và hãy giữ mãi trong lòng các anh những tư tưởng của lúc này.

 – Nhưng với bà, bà không muốn điều gì sao? Bà không có bà con nào để báo tin rằng con bà đã sinh sao?

 – Có, tôi có. Nhưng họ không ở gần đây. Họ ở Hébron cơ…

 – Tôi sẽ đi – Êlia nói. “Họ là ai?”

 – Zacaria, vị thầy cả, và Êlisabét chị họ của tôi.

 – Ồ! Zacaria ! Tôi biết ông. Vào kỳ mùa hè, tôi đã ở trên các ngọn núi đó, nơi có những đồng cỏ tốt. Tôi đã là bạn với người mục đồng của ông. Khi tôi biết bà đã thu xếp ổn định, tôi sẽ tới nhà Zacaria.

 – Cám ơn Êlia.

 – Không có gì. Đó là vinh dự lớn cho tôi, một mục đồng hèn mọn mà được tới nói với vị thầy cả rằng Đấng Cứu Tinh đã sinh.

 – Không, anh sẽ nói với ông ta: “Maria Nazarét, em họ của ông, nói rằng Giêsu đã sinh ra, và mời ông tới Bétlem”.

 – Tôi sẽ nói như vậy.

 – Nguyện Thiên Chúa thưởng công cho anh. Tôi sẽ nhớ đến anh, đến tất cả các anh…

 – Bà sẽ nói với con bà về chúng tôi?

 – Phải.

 – Tôi là Êlia,

 – Tôi, Lêvi,

 – Tôi, Samuel,

 – Tôi, Jonas,

 – Tôi, Isaac,

 – Tôi, Tobie,

 – Tôi, Jonatha,

 – Và tôi, Daniel,

 – Và Simêon là tôi,

 – Và tôi, tôi tên là Gioan,

 – Tôi, tôi tên là Giuse, và em tôi tên là Benjamin. Chúng tôi sinh đôi.

 – Tôi sẽ nhớ tên các anh.

 – Chúng tôi phải đi… Nhưng chúng tôi sẽ trở lại… Và chúng tôi sẽ mang cho bà những thứ khác để thờ lạy…

 – Làm sao có thể trở về công viên, và để chú bé này ở lại đây?

 – Vinh danh Thiên Chúa đã chỉ Người cho chúng ta!

 – Xin cho chúng tôi hôn áo Người – Lêvi nói với nụ cười thiên thần.

 Maria ngồi trên cỏ, nâng nhẹ Giêsu lên, giơ ra cho họ hôn đôi chân nhỏ bọc trong vải. Những người có râu thì lau bộ râu trước khi hôn. Hầu như tất cả đều khóc khi phải bỏ đi. Họ đi giật lùi để ra, để Quả tim họ lại bên máng cỏ.

 Thị kiến chấm dứt như vậy cho tôi: Maria ngồi trên cỏ với Bé con trong lòng, và Giuse chống khuỷu tay vào thành máng cỏ, nhìn và thờ lạy.

“NƠI CÁC MỤC ĐỒNG CÓ TẤT CẢ NHỮNG ĐỨC TÍNH CẦN THIẾT ĐỂ LÀM KẺ THỜ LẠY NGÔI LỜI”

Chúa Giêsu nói: các mục đồng là những người đầu tiên thờ lạy Thân Xác Thiên Chúa. Nơi họ có tất cả những đức tính cần thiết để làm kẻ thờ lạy

Thân Xác Cha, họ là những linh hồn của Thánh Thể, Một Đức Tin vững vàng: Họ tin vào lời của thiên thần một cách mau mắn và không hề thắc mắc.

 Lòng quảng đại: Họ dâng tất cả của cải họ cho Chúa.

 Sự khiêm nhường: Họ tới gần những người mà theo cái nhìn nhân loại, là những kẻ nghèo khó hơn họ, một cách khiêm tốn, với những cử chỉ không hạ nhục, họ xưng mình là tôi tớ những người đó.

 Sự ước ao: Điều mà tự họ không thể cho thì họ mau mắn tìm kiếm để có, với một sự can đảm hăng hái.

 Sự vâng lời mau mắn: Maria muốn báo tin cho Zacaria, Êlia lo việc đó ngay. Ông không chần chừ chậm trễ.

 Tình yêu: Sau cùng, họ không muốn rời hang đá, và con, con đã nói rằng họ để Quả tim họ lại đó. Con nói rất đúng.

 Người ta không phải cư xử như vậy đối với Bí Tích Tình Yêu của Cha sao?

 Đây là một điều khác, và Cha nói cho riêng con: Hãy nhận xét xem thiên thần đã tỏ mình ra trước tiên cho ai, và ai đã đáng được cảm thấy tình yêu thương của Maria?

 Thằng bé Lêvi: Thiên Chúa tỏ mình ra cho những kẻ có tâm hồn trẻ nhỏ, bày tỏ cho họ các bí nhiệm của Người. Người cho phép họ nghe những lời của Thiên Chúa và của Mẹ Maria. Kẻ có tâm hồn trẻ nhỏ thì cũng có sự bạo dạn thánh của Lêvi để nói: “Cho con hôn áo của Giêsu”. Cậu bé đã nói vậy với Maria, vì Maria luôn luôn là kẻ ban Giêsu. Mẹ là kẻ mang Thánh Thể, Mẹ là Chén Thánh sống.

 Ai đến với Maria là tìm thấy Cha. Ai hỏi Cha ở nơi Mẹ thì sẽ nhận được Cha bởi Mẹ. Nụ cười của Mẹ Cha khi một tạo vật thưa Người: “Xin ban Giêsu của Mẹ cho con để con yêu Người”, làm sáng rực các tầng trời bằng một sự huy hoàng rực rỡ sống động hơn và vui tươi hơn, vì Mẹ được vui vì điều đó.

 Vậy con hãy nói với Mẹ: “Hãy cho con hôn y phục của Giêsu, để con hôn các vết thương của Người”. Và hơn nữa, hãy dám nói: “Hãy cho con tựa đầu vào trái tim Giêsu của Mẹ, để con kín múc được các ân phúc ở đó”.


Trích đoạn Tin Mừng Như Đã Mặc Khải Cho Tôi, Quyển 1.

Leave a Reply