Phúc Âm trình thuật rất nhiều phép lạ chữa lành bệnh tật và nhiều lần Chúa Giêsu trừ quỷ. Bị quỷ ám là căn bệnh mà Chúa nói rằng đây là: “một bệnh của thần trí”. Tại sao bị quỷ ám? Cách nào để chữa trị căn bệnh này? Hy vọng qua những lần Chúa Giêsu trừ quỷ và lời giảng dạy của Người về bệnh này sẽ giúp ích cho chúng ta từ những lần Chúa Giêsu trừ quỷ mà tác phẩm Tin Mừng Như Đã Mặc Khải Cho Tôi tường thuật. Người trừ quỷ ở Gêrasa, ở Caphanaum, chữa một người bị ám rất nặng ở một nơi thuộc miền thập tỉnh, và kết thúc là lời giải thích về đường lối mà ma quỷ xâm nhập vào con người. Sau đây là các đoạn trích:

CHÚA GIÊSU TRỪ QUỶ CHO CÁC NGƯỜI Ở GÊRASA BỊ QUỶ ÁM

Sau khi đã băng qua hồ từ hướng tây bắc về phía đông nam, Giêsu truyền cho Phêrô lên bờ tại Ippo. Phêrô vâng lời không bàn luận. Ông cho thuyền xuôi tới cửa một con sông nhỏ mà mưa xuân và cơn bão vừa qua đã làm tràn đầy và chảy ồn ào khi nó đổ ra hồ qua một cái họng hẹp đầy đá giống như tất cả bờ hồ tại điểm này. Các đứa con trai gác thuyền (mỗi thuyền có một đứa) được lệnh chờ cho tới chiều để trở về Caphanaum.

-Hãy nín lặng như con cá, nếu người ta hỏi chúng mày – Phêrô khuyên. “Nếu có ai hỏi chúng mày ông thầy ở đâu, hãy trả lời cách bảo đảm rằng: ‘tôi không biết’. Cũng nói như vậy, nếu người ta muốn biết Người đi về hướng nào. Đó là sự thật, vì chúng mày không biết”.

Họ chia tay và Giêsu leo lên một lối đi dốc hầu như thẳng đứng trên núi đá. Các tông đồ theo Người trên con đường khó khăn này cho tới đỉnh núi, nơi nó san ra như một cao nguyên trồng đầy những cây sồi, ở đó người ta chăn rất nhiều heo.

-Những con vật ghê tởm! Chúng ngăn cản chúng ta qua – Batôlômêo kêu.

-Không. Chúng đâu có ngăn cản ta qua. Có đủ chỗ cho hết mọi người – Giêsu trả lời bình tĩnh.

Các người chăn heo, khi thấy các người Israel, liền tìm cách lùa đàn heo tới bên dưới các cây sồi để cho trống đường, và các tông đồ đi qua, vừa đi vừa làm hàng ngàn thứ nhăn mặt cau mày giữa các đống phân để lại do các con vật béo, và chúng còn làm trây trét ra khi chúng lấy mõm chũi đất.

Giêsu đi qua, không thể hiện là có bất cứ sự phiền hà nào. Người nói với các người chăn heo: “Xin Thiên Chúa thưởng công cho các anh vì sự tử tế của các anh”.

Các người chăn bầy là những người nghèo, chỉ hơi bớt dơ hơn các con heo của họ một tí, nhưng bù lại, họ vô cùng gầy gò hơn. Họ ngạc nhiên nhìn Người rồi nói với nhau, một đứa nói: “Nhưng không phải một người Israel sao?”

Những đứa khác trả lời: “Chứ mày không thấy những tua rua nơi y phục của ông ta sao?”

Đoàn giảng đạo tụ họp lại. Bây giờ họ có thể đi túm lại vì con đường đủ rộng. Phong cảnh ở đây thật đẹp, cao hơn mặt nước hồ chừng vài chục mét, nhưng nó cho phép nhìn thấy tất cả tấm gương nước với các thành phố rải rác trên bờ hồ.

Tibêriat là một huy hoàng với những kiến trúc tuyệt đẹp ngay ở đối diện nơi các tông đồ đang ở. Ở đây, ngay ở dưới chân núi đá huyền vũ, bãi cạn hẹp hiện ra như một chiếc gối xanh lục, trong khi ở bờ phía bên kia, từ thành phố Tibêriat tới cửa sông Giođan là một đồng bằng lớn mà nước sông đã ứ đọng thành bãi lầy.

Ở đây, dòng sông như trì trệ để lấy đà đổ vào hồ rồi giảm tốc trong chiếc hồ an tĩnh. Đồng bằng này đầy tràn đủ thứ cây và bụi rậm đặc biệt của nơi bùn lầy. Người ta thấy ở đây đủ loại chim săn mồi dưới nước với mầu sắc sặc sỡ, tựa như chúng được phủ bằng những châu báu. Ta thấy nơi này như một cái vườn. Các con chim bay ra từ các bụi cỏ hay bãi sậy, lượn trên mặt hồ, nhào xuống để chộp một con cá, rồi trở lên với vẻ tuyệt vời hơn, do nước làm sống động hơn các mầu lông của nó, rồi trở về đồng bằng đầy hoa, nơi gió vui chơi trò đu đưa các mầu sắc.

Bên này, trái lại, toàn là rừng sồi cổ thụ, dưới tàn lá của chúng, cỏ lá mềm mại một mầu ngọc bích. Bên ngoài giải rừng này, sau một thung lũng, núi lại lên cao, làm thành một cái gò đá dốc, trên đó các căn nhà được xây bám vào nền đá. Tôi tin là núi đá và các kiến trúc chỉ là một, tạo ra như các hang động để cư trú, pha lẫn kiểu thành phố hang động với thành phố thường.

Đặc biệt của thành phố này là nhiều mức mặt bằng, bởi đó, mái của căn nhà ở bên dưới ngang với lối vào tầng trệt của căn nhà ở bên trên. Trên những phía núi dốc thẳng hơn, thẳng tới nỗi bị cấm hết mọi loại xây cất, có những hang động, những lỗ, những hầm sâu, và những đường mòn xuống dốc rất nhanh về phía thung lũng. Vào mùa mưa, chắc chắn những đường mòn này trở thành biết bao con suối nhỏ kỳ dị. Các tảng đá đủ loại bị nước kéo vào trong thung lũng, tạo ra những bậc thang hỗn độn tại hòn núi quá dốc, quá hoang dã, giống như một tên cường hào ác bá gù và hỗn láo, muốn người ta tôn trọng nó với bất cứ giá nào.

Có phải đây là Gamala không? – Zêlote hỏi.

Đúng. Gamala đây. Con biết hở? – Giêsu nói.

Con ở đây để trốn tránh một đêm, đã từ lâu lắm rồi. Rồi sau đó bị cùi, con không ra khỏi các mồ mả nữa.

Người ta đã theo dõi anh tới tận đây cơ à? – Phêrô hỏi.

Tôi đến từ xứ Syrie, nơi tôi tìm chỗ trú, nhưng họ khám phá ra tôi, và chỉ có trốn tới những vùng đất này mới mong khỏi bị bắt. Sau đó, tôi di chuyển từ từ, luôn luôn bị đe dọa, tới tận sa mạc Técua. Và từ đó, khi đã bị cùi, tôi tới thung lũng các người chết. Bệnh cùi đã cứu tôi khỏi tay các kẻ thù của tôi.

Những người này, họ là dân ngoại phải không? – Iscariot hỏi.

-Hầu như tất cả. Có vài người Híp-ri buôn lậu, pha trộn giữa những người tin và những người không tin gì cả. Nhưng họ không xử tệ với tôi là người chạy trốn.

Một miền trộm cướp! Các hẻm núi hẻo lánh chừng nào! – Nhiều người kêu lên.

Đúng, nhưng hãy tin đi: ở bờ phía bên kia họ còn trộm cướp hơn – Gioan nói. Ông vẫn còn xúc động về vụ ông Tẩy Giả bị bắt.

-Ở bờ phía bên kia, có những tên trộm cướp ngay giữa những kẻ người ta gọi là công chính – Anh ông thêm vào.

Giêsu lên tiếng: “Nhưng chúng ta lại gần họ mà không ghê tởm, trong khi ở đây các con cau mày nhăn mặt khi đi qua các con vật!”

-Chúng nó dơ bẩn…

-Kẻ có tội còn dơ hơn nhiều. Những con vật này làm như vậy, nhưng không phải lỗi của chúng khi chúng làm như vậy. Trái lại, con người chịu trách nhiệm khi ra dơ bẩn sau khi phạm tội.

-Vậy tại sao chúng ta lại xếp nó vào loại dơ bẩn? – Philipphê hỏi.

-Một lần Thầy đã nói ám chỉ rồi. Sự xếp loại này có một lý do siêu nhiên và một lý do tự nhiên. Lý do thứ nhất là dạy cho dân được chọn biết sống, luôn luôn hiện diện trong tinh thần của nó sự được tuyển chọn của mình và phẩm cách con người của mình ngay trong cả những hành động thông thường như là việc ăn uống. Kẻ mọi rợ ăn tất cả mọi thứ, nó chỉ cần làm đầy bụng.

Dân ngoại, dù nó không mọi rợ, cũng ăn hầu như tất cả, không nghĩ tới là ăn quá mức sẽ khơi động tật xấu và những khuynh hướng làm hạ giá con người. Các dân ngoại, thậm chí tìm cách đạt tới sự cuồng loạn của khoái lạc mà đối với họ, hầu như là một tôn giáo.

Những người học thức trong các con đều biết những buổi lễ dâm bôn để tôn kính các thần của họ. Những thứ lễ lạy đã hủ biến thành các cuộc hành lạc dâm ô.

Con cái Thiên Chúa phải biết tự kiềm chế, và bởi vâng lời, khôn ngoan, phải hoàn thiện hóa chính mình bằng cách nghĩ tới nguồn gốc và cùng đích của mình là: Thiên Chúa và Nước Trời.

Đàng khác, lý do tự nhiên: ra lệnh không được khích động máu huyết bởi những thức ăn gây ra cái đà dẫn tới các đam mê không xứng đáng với con người. Tình yêu, dù là về xác thịt cũng không bị cấm, nhưng phải điều hòa nó bằng sự tươi mát của linh hồn luôn hướng về Trời.

Phải là tình yêu chứ không phải tình dục, liên kết người đàn ông với người bạn mà nó nhìn thấy giống nó, chứ không phải một giống cái. Nhưng các con vật khốn nạn đâu có tội gì vì nó là heo, hoặc vì những hiệu quả của thịt nó có thể gây ra trong máu. Những kẻ được chỉ định để giữ nó thì càng vô tội hơn. Nếu chúng ngay thật thì trong đời sống bên kia, chúng sẽ có sự khác biệt nào với nhà luật sĩ cúi mình trên sách vở, nhưng khốn thay, chẳng học được lòng tốt ở đó?

Thật vậy, Thầy nói với các con rằng, chúng ta sẽ thấy những người chăn heo trong đám người công chính, và các luật sĩ trong đám những kẻ bất chính. Nhưng cái gì bể gẫy vậy?

Mọi người lánh ra xa sườn núi, vì những cục đá và đất lăn và nẩy trên sườn dốc. Họ nhìn cách ngạc nhiên.

-Đó, đó, đàng kia, hai người đàn ông… hoàn toàn trần truồng, họ đi về phía chúng ta, khua chân múa tay. Những người điên…

-Hay những kẻ bị quỉ ám? – Giêsu trả lời cho Iscariot là người đầu tiên nhìn thấy hai người bị ám đi về phía Giêsu.

Chắc họ đã ra khỏi cái hang nào đó trong núi. Họ la hét. Người chạy nhanh hơn nhào tới phía Giêsu. Ông ta giống như một con chim lớn trụi lông, vì ông ta phóng nhanh, bơi đi với hai tay như đôi cánh.

Hắn phục dưới chân Giêsu và la: “Đó, Ngài ở đây, ông chủ của thế gian? Tôi có gì để làm với Ngài đâu? Giêsu con Thiên Chúa Tối Cao? Đã đến giờ trừng phạt chúng tôi rồi sao? Tại sao Ngài đến hành hạ chúng tôi trước thời gian?”

Người bị ám kia, hoặc vì lưỡi nó bị trói, hoặc vì ma quỉ làm nó tê liệt, chỉ nằm xoài úp bụng xuống đất và khóc. Rồi hắn ta ngồi dậy, trơ trơ, chơi với những hòn sỏi và đôi chân trần của hắn ta. Ma quỉ tiếp tục nói qua miệng của tên thứ nhất. Hắn ta quằn quại dưới đất trong sự sợ hãi cực điểm. Anh ta như muốn phản ứng, nhưng anh ta chỉ có thể thờ lạy. Cùng một lúc bị lôi kéo và bị đẩy lui bởi sức mạnh của Giêsu.

Anh ta kêu: “Tôi van Ngài, nhân danh Thiên Chúa, hãy ngừng hành hạ tôi. Hãy để tôi đi”.

-Ừ, Nhưng đi bên ngoài người này. Hỡi thần ô uế, hãy ra khỏi người này, và hãy nói tên mi.

Tên tôi là đạo quân, vì chúng tôi rất đông. Chúng tôi đã ám họ từ mấy năm nay rồi, và bởi họ, chúng tôi bứt đứt giây rợ và xiềng xích, và không một sức mạnh nào của loài người có thể chống lại. Bởi chúng tôi, họ trở thành nỗi sợ hãi. Và chúng tôi sử dụng họ để người ta nói phạm tới Ngài. Chúng tôi báo thù trên họ vì Ngài trục xuất chúng tôi. Chúng tôi hạ con người xuống bên dưới hoang thú để người ta nhạo báng Ngài. Không có chó sói, chó rừng hay linh cẩu, cũng không có diều hâu hay ma cà rồng nào giống những kẻ chúng tôi chiếm giữ. Nhưng đừng xua đuổi chúng tôi. Hoả ngục quá ghê sợ!…

-Hãy ra, nhân danh Giêsu, hãy ra!

Giêsu có một giọng như sấm và mắt Người lóe chớp.

-Ít nhất hãy để chúng tôi nhập vào bầy heo mà Ngài đã gặp.

-Hãy đi.

Với một tiếng kêu súc vật, ma quỉ ra khỏi hai người khốn nạn. Và qua cơn gió xoáy làm uốn quằn các cây sồi tựa như các cây cỏ, chúng táp xuống trên đàn heo rất đông. Các con vật bắt đầu chạy như những kẻ bị nhập qua các cây sồi, với những tiếng kêu thực sự ma quỉ. Chúng đâm vào nhau và làm cho nhau bị thương, cắn nhau, và sau cùng lao xuống hồ, vì khi chúng đã chạy lên tới đỉnh bờ biển dốc, chúng chỉ còn cách nhào xuống nước.

Trong khi các người chăn hốt hoảng, buồn rầu, la hét sợ hãi, các con vật, hàng nhiều trăm con, với những tiếng động điếc tai, nhào xuống làn nước yên tĩnh, nơi chúng làm ra những xoáy bọt. Chúng nổi trở lại trên mặt nước, bị nước cuốn đi, quay lộn, giơ những cái bụng tròn hay cái mũi nhọn của chúng ra với những con mắt sợ hãi, rồi sau cùng chết đuối.

Các mục đồng vừa chạy về thành phố vừa la hét. Các tông đồ chạy lại nơi tai biến để coi. Các ông trở lại và nói: “Không còn một con nào sống sót. Thầy đã cho chúng một việc phục vụ thật xấu”. Giêsu bình tĩnh trả lời: “Thà hai ngàn con heo chết còn hơn một người bị chết. Hãy cho hai người này đồ mặc. Họ không thể ở như vầy”.

CHÚA GIÊSU TRỪ QUỶ Ở CAPHANAUM

Sau những lời chào đầu tiên, họ nói với Người về một kẻ bị ám, mù và câm, đang chờ cùng với cha mẹ anh, đã đến từ nhiều giờ rồi. Mathêu giải thích: “Anh ta trơ trơ, nằm trên đống bao rỗng và không nhúc nhích. Cha mẹ anh hy vọng ở Thầy. Vào bồi dưỡng cái gì đi rồi Thầy sẽ trợ cứu anh ta”.

–      Không. Thầy đi tìm anh ta ngay. Anh ta ở đâu?

–      Trong phòng dưới nhà, gần chiếc lò. Con để anh ở đó với cha mẹ anh, vì có nhiều người Pharisêu và luật sĩ như đang mai phục…

–      Đúng. Tốt hơn là đừng làm vui lòng họ – Phêrô cằn nhằn.

–      Judas Simon không ở đây à? – Giêsu hỏi.

–      Ông ngồi lại trong nhà. Luôn luôn là ông ta phải làm khác với mọi người – Phêrô lại cằn nhằn.

Giêsu nhìn ông nhưng không khiển trách. Người vội vã đi về nhà trong khi giao đứa trẻ cho trúng ngay Phêrô. Ông vuốt ve nó và lập tức moi trong thắt lưng ra một cái còi và nói: “Một cái cho con, một cái cho con trai ông. Chiều mai ông sẽ dẫn con tới gặp nó. Ông đã bảo các người chăn chiên mà ông nói về Giêsu, làm cho ông”.

Giêsu vào nhà, chào Judas. Ông làm như đang bận rộn xếp đặt chén bát. Rồi Người đi thẳng vào một nơi giống như phòng chứa lương thực, đâu lưng với cái lò nướng bánh.

–      Đem người bệnh ra – Giêsu ra lệnh.

Một người Pharisêu, không phải người Caphanaum, nhưng có vẻ còn gắt gỏng hơn các người Pharisêu trong xứ, ông nói: “Đây không phải người bệnh, đây là một người bị ám”.

–      Luôn luôn là một bệnh của thần trí…

–      Nhưng anh ta có mắt và lưỡi bị trói…

–      Luôn luôn là một bệnh về thần trí, nó lan sự chiếm giữ qua các chi thể và các bộ phận. Nếu ông để tôi hoàn thành, ông sẽ biết điều đó có ý nghĩa gì. Kể cả chứng sốt là ở trong máu, nhưng từ máu, nó tấn công phần nọ phần kia của cơ thể.

Người Pharisêu không biết đối đáp ra sao nên nín lặng.

Người bị ám đã được dẫn tới trước mặt Giêsu, trơ trơ đúng như Mathêu nói. Anh ta bị rầy rà bởi ma quỉ. Trong lúc này người ta kéo đến rất đông. Thật không tin được làm sao mà vào giờ này, tôi nói có lẽ là giờ giải lao, người ta chạy rất lẹ tới nơi nào có cái gì để coi.

Bây giờ có các kỳ mục của Caphanaum, trong số đó có bốn người Pharisêu, có Jairô, và trong một góc, với lời xin lỗi vì có lệnh canh chừng, là viên bách binh đội trưởng Rôma, và cùng với anh ta là các công dân thuộc các thành phố khác.

–      Nhân danh Thiên Chúa, hãy rời khỏi con ngươi mắt và lưỡi của người này, Ta muốn vậy. Hãy ra khỏi tạo vật này và không bao giờ được phép chiếm giữ nó nữa. Đi ngay! – Giêsu la lên khi Người giơ tay truyền lệnh.

Phép lạ bắt đầu bằng một tiếng rống điên dại của ma quỉ, và kết thúc bằng tiếng kêu vui mừng của kẻ được giải thoát. Anh ta kêu: “Con vua Đavít! Con vua Đavít! Đấng Thánh và là Vua!”

–      Làm sao nó biết được kẻ chữa nó là ai? – một luật sĩ hỏi.

–      Nhưng tất cả những chuyện này là hài kịch! Những người này được trả tiền để làm – một người Pharisêu nhún vai nói.

–      Nhưng bởi ai? Nếu được phép hỏi ông điều đó – Jairô hỏi.

–      Thậm chí bởi ông.

–      Nhưng với mục đích nào?

–      Để làm nổi tiếng cho Caphanaum.

–      Đừng hạ thấp sự thông minh của ông xuống để nói một điều ngu xuẩn như vậy, và đừng làm dơ lưỡi ông bởi những lời dối trá. Ông biết điều đó không đúng, và ông phải hiểu rằng ông nói một điều ngu ngốc. Điều xảy ra ở đây thì cũng xảy ra ở nhiều nơi trong Israel. Vậy ra khắp nơi đều có những người trả tiền? Thật vậy, thế mà tôi không biết rằng trong Israel, đám dân nhỏ lại rất giầu! Bởi vì các ông, và cùng với các ông là tất cả những ông tai to mặt lớn, chắc chắn là các ông không trả tiền cho chuyện này rồi. Vậy là chỉ có đám dân nhỏ trả tiền, vì chỉ có họ yêu ông Thầy.

–      Ông là trưởng giáo đường mà ông cũng yêu ông ta. Ở đây có Manaen, và ở Bêtani có Lazarô Théophile. Những người này không phải là đám dân nhỏ.

–      Nhưng họ thật thà, và tôi cũng vậy. Chúng tôi không lường gạt ai về bất cứ cái gì, và càng không hơn nữa trong những việc thuộc về đức tin. Chúng tôi không cho phép làm điều đó vì chúng tôi kính sợ Thiên Chúa, và chúng tôi hiểu rằng điều làm vui lòng Thiên Chúa là sự ngay thẳng.

Các người Pharisêu quay lưng lại với Jairô và tiếp xúc với cha mẹ của người được chữa khỏi: “Ai bảo các người đến đây?”

–      Ai à? Rất nhiều người, đã được chữa lành hoặc bà con họ.

–      Nhưng, họ đã cho các người cái gì?

–      Cho à? Sự bảo đảm rằng Người sẽ chữa nó.

–      Nhưng có đúng là nó bệnh không?

–      Ôi! Các lòng trí nham hiểm! Các ông nghĩ rằng tất cả những chuyện này là sự giả vờ sao? Nếu các ông không tin, hãy đi Gadara và hãy hỏi tin tức về sự khốn nạn của gia đình Anna Ismael.

Các người Caphanaum công phẫn và biểu lộ cách ồn ào, trong khi các người Galilê đến từ vùng lân cận Nazarét thì nói: “Nhưng đây là con bác thợ mộc Giuse mà!”

Những người Caphanaum trung thành với Giêsu thì kêu: “Không, đây là đấng mà anh được chữa lành đã gọi tên là: Con Thiên Chúa và con Đavít”.

–      Nhưng đừng quá tán dương người dân này bằng những lời xác định của quí vị – một luật sĩ nói cách khinh bỉ.

–      Vậy theo ông thì Người là ai?

–      Một Benzêbút!

–      Ôi! Miệng lưỡi rắn độc, kẻ phạm thượng, kẻ bị quỉ ám! Các con tim mù quáng! Sự đổ nát của chúng ta! Thậm chí niềm vui vủa Đấng Mêsia, các ông cũng muốn cướp lấy của chúng ta, hen! Các kẻ cho vay nặng lãi! Các viên đá khô cằn! – một cảnh ồn ào thật đẹp!

Giêsu đã vào trong nhà bếp để uống chút nước, Người lại trở ra đứng trên ngưỡng cửa đúng lúc để nghe một lần nữa sự kết án ngu xuẩn mà các người Pharisêu nhai lại: “Đó chỉ là một Benzêbút, bởi vì ma quỉ vâng lời ông ta. Tên đại Benzêbút là cha ông ta đã giúp ông ta, và ông ta chỉ xua đuổi ma quỉ do ảnh hưởng của Benzêbút, thủ lãnh các ma quỉ”.

Giêsu bước xuống hai bậc thềm của ngưỡng cửa và tiến thẳng, nghiêm nghị và bình tĩnh, đứng ngay trước mặt nhóm luật sĩ và người Pharisêu. Trong khi nhìn họ đăm đăm với cái nhìn xuyên thấu, Người nói:

–      Ngay cả trên mặt đất, chúng ta cũng thấy rằng một vương quốc bị phân chia thành từng mảnh đối nghịch nhau, thì trong nội bộ nó đã trở nên yếu. Người ta có thể tấn công nó dễ dàng, và các nước lân bang sẽ tàn phá nó và bắt nó làm nô lệ. Cũng trên mặt đất, các ông thấy rằng một thành phố chia ra thành từng phần đối nghịch nhau, sẽ bị mất sự thịnh vượng. Cũng vậy, một gia đình mà các phần tử chia rẽ bởi sự ghen ghét, nó sẽ tan tành và trở nên những mảnh nhỏ chẳng ích lợi gì cho ai, và làm cho các người đồng hương chê cười. Sự hòa hợp không phải chỉ là bổn phận, mà còn là một khả năng pháp lý, vì nó giữ cho người ta độc lập, mạnh và có tình thương. Đó chính là điều mà các người đồng hương, các dân của một thành phố, các phần tử trong gia đình cần suy nghĩ khi vì ước ao một mối lợi cá nhân, họ sẽ đi tới chỗ chia rẽ và bị những nhiễu hại luôn luôn nguy hiểm, vì các người, các nhóm đối nghịch nhau sẽ phá hủy tình thương.

Trong thực tế, chính cái năng lực pháp lý này là cái mà các người lãnh đạo thế gian thực hành. Hãy quan sát Rôma trong sức mạnh không chối cãi được của nó, và rất nặng nề đối với chúng ta: Nó cai trị thế gian, và nó hợp nhất trong các kế hoạch với một ý chí duy nhất: Thống trị, dù là giữa họ với nhau, chắc chắn có những khác biệt, những ác cảm, những phản động. Nhưng điều đó chỉ chôn ở đáy, còn ở trên mặt là một khối duy nhất, không rạn nứt, không hỗn độn. Tất cả họ đều muốn cùng một điều, và họ thành công vì họ muốn. Và họ sẽ thành công bao lâu họ còn muốn cùng một điều.

Hãy nhìn cái gương mẫu loài người này về năng lực pháp lý của sự đoàn kết, và hãy suy nghĩ: Nếu con cái của thế kỷ này làm như vậy, lẽ nào Satan lại không như vậy? Họ, đối với chúng ta là những Satan, nhưng tính cách satan của dân ngoại là không so với tính cách satan toàn vẹn của Satan và các ma quỉ của nó. Ở đó, trong cái nước vĩnh cửu này, những mưu mô, những độc ác là vô hạn, không thể đếm các thế kỷ, nó không có tận cùng. Nơi mà người ta hưởng thụ bằng cách gây tổn hại cho Thiên Chúa và cho loài người; nơi mà hơi thở là làm thiệt hại. Sự hưởng thụ đau đớn, độc nhất và ghê gớm của chúng trong sự nguyền rủa trọn vẹn, là thành lập sự hiệp nhất các thần trí trong một ý chí duy nhất: Gây tổn hại.

Bây giờ, bởi vì các ông muốn chống đỡ Satan để làm cho người ta nghi ngờ sức mạnh của tôi: nếu Satan là đứa giúp tôi, bởi vì tôi là một Benzêbút cấp thấp, thì có phải Satan đã đi tới chỗ bất đồng ý kiến với chính nó và với các ma quỉ của nó khi nó xua đuổi các quỉ này ra khỏi những người mà chúng chiếm giữ không? Nếu chúng bất đồng ý kiến thì nước chúng làm sao tồn tại được? Không, điều đó không thể. Satan là những gì xảo quyệt nhất, và nó không thể nào làm tổn hại chính mình. Nó hướng về đích: mở rộng, chứ không phải thu hẹp biên giới của nước nó trong các tâm hồn. Sự sống của nó là: ăn cắp, gây tổn hại, nói dối, xúc phạm, quấy rối, đánh cắp các linh hồn của Thiên Chúa, đánh cắp sự bình an của loài người; gây thiệt hại cho các tạo vật của Chúa Cha và làm cho Người buồn rầu. Nói dối để làm cho người ta lạc đường. Gây thương tích, xúc phạm để vui hưởng. Quấy rối, bởi vì nó là kẻ vô trật tự. Nó không thể thay đổi. Nó là đời đời trong thực thể của nó và trong các phương pháp của nó.

Nhưng các ông hãy trả lời câu hỏi này: nếu tôi xua đuổi ma quỉ nhân danh Benzêbút, thì con cháu các ông sẽ nhân danh ai mà xua đuổi chúng? Các ông muốn nhìn nhận rằng lúc đó chúng cũng là các Benzêbút sao? Bây giờ nếu các ông nói vậy thì chúng sẽ thấy các ông là những kẻ vu khống. Nếu chúng thánh thiện tới cỡ chúng không phản ứng gì trước sự kết tội của các ông, thì các ông sẽ tự phán xét chính mình khi thú nhận rằng trong Israel có rất nhiều quỉ, và Thiên Chúa sẽ phán xét các ông nhân danh các con cái Israel bị các ông kết án là ma quỉ. Bởi vì từ nơi xét xử, thực sự chúng là thẩm phán của các ông, nơi mà sự xét xử không lệ thuộc vào ảnh hưởng của loài người.

Rồi nếu, đúng như sự thật, tôi xua đuổi ma quỉ nhờ vào Thần Trí của Thiên Chúa, thì đó là bằng cớ rằng Nước Thiên Chúa và vị Vua của nước này đã đến với các ông. Vị Vua này có một sức mạnh đến nỗi không một lực lượng nào đối lập với nước Người có thể kháng cự được. Chính vì vậy mà tôi trói buộc và cưỡng bách những kẻ đã chiếm giữ các con cái của nước tôi phải ra khỏi nơi chúng đang chiếm giữ, và trả lại cho tôi cái mồi của chúng để tôi chiếm giữ. Phải chăng đó không phải là điều thông thường người ta vẫn làm? Khi một kẻ nào đó muốn vào trong căn nhà có một người lực lưỡng ở, để chiếm lấy của cải của họ, dù là của đó được tậu cách tốt hay xấu, họ sẽ làm như vầy: nó vào nhà đó và trói chủ nhà lại, rồi sau đó nó có thể cướp phá căn nhà. Tôi, tôi trói tên thần trí tối tăm đã đánh cắp của tôi cái thuộc về tôi, và tôi lấy lại cái nó đã ăn cắp của tôi. Tôi, một mình tôi có thể làm, vì tôi là đấng duy nhất mạnh mẽ, là cha của thế kỷ tương lai, là Hoàng Tử hòa bình.

–      Yêu cầu ông giải thích cho chúng tôi ý nghĩa điều ông muốn nói: “cha của thế kỷ tương lai”. Ông tin rằng ông sẽ sống tới thế kỷ sau, và ngu hơn nữa, ông nghĩ là ông sẽ tạo dựng thời gian sao? Ông là một con người tội nghiệp, mà thời gian thì thuộc về Thiên Chúa – một luật sĩ hỏi.

–      Chính ông, một luật sĩ, ông hỏi tôi điều đó sao? Vậy ra ông không biết rằng sẽ có một thế kỷ mà nó chỉ có lúc bắt đầu, nhưng không có tận cùng, đó là thế kỷ của tôi? Chính trong thế kỷ này, tôi sẽ toàn thắng, tụ tập ở chung quanh tôi tất cả con cái của nó, và họ sẽ sống đời đời, giống như thế kỷ này mà tôi đã tạo dựng, và tôi đang tạo dựng nó bằng cách đặt tâm hồn vào một giá trị bên trên thể xác, bên trên thế gian, bên trên hỏa ngục mà tôi xua đuổi. Vì tôi có thể tất cả.

Vì lý do này, tôi bảo các ông rằng ai không hợp tác với tôi là chống lại tôi. Ai không thu thập với tôi là phân tán. Bởi vì tôi là Đấng Tự Hữu, và ai không tin điều đó thì như đã được tiên tri, nó phạm tội chống lại Thánh Linh mà lời nói của Người đã được nói bởi các tiên tri, những lời không dối trá, không sai lầm, những lời buộc phải tin và không được chống cự.

Tôi nói với các ông: tất cả sẽ được tha thứ cho con người, mọi tội lỗi và mọi lời phạm thượng, bởi vì Thiên Chúa biết con người không phải chỉ toàn là thần trí, mà còn có xác thịt, và xác thịt bị cám dỗ sẽ rơi vào những yếu đuối bất ngờ. Nhưng lời phạm thượng chống lại Thánh Linh sẽ không được tha. Ai nói phạm tới Con Người sẽ còn được tha, bởi vì sự nặng nề của xác thịt bao bọc Ngôi Vị của tôi, và bao bọc kẻ đã nói chống lại tôi, nên tội của nó còn có thể kết luận là vì sai lầm. Nhưng kẻ nào nói chống lại Thánh Linh sẽ không được tha, dù trong đời này, dù trong đời tương lai, bởi vì Chân Lý là đúng như Người là: rõ ràng, thánh thiện, không thể chối cãi, và được bộc lộ cho tâm hồn theo cách không thể dẫn nó tới sai lầm. Trong ý nghĩa này, chỉ những kẻ muốn sai lầm mới phạm lỗi sai lầm. Từ chối Chân Lý do Thánh Linh nói là từ chối Lời của Thiên Chúa và Tình Yêu mà lời này ban vì tình yêu đối với loài người. Và tội chống lại Tình Yêu thì không được tha.

Nhưng mỗi người đều cho trái từ cây của nó. Các ông cho trái từ cây của các ông, và đó không phải là những trái tốt. Nếu các ông cho một cây tốt để trồng trong vườn thì nó sẽ cho những trái tốt; nhưng nếu các ông cho một cây xấu thì những trái người ta hái trên nó sẽ xấu, và mọi người sẽ nói: “Cây này không tốt”. Bởi vì xem trái thì biết cây.

Và các ông, các ông là những người xấu, làm sao các ông có thể nói tốt? Bởi vì miệng nói những điều do quả tim đầy tràn ra. Hành động và lời nói của chúng ta đến từ những sự quá đầy tràn ở trong chúng ta. Người tốt thì rút ra ở trong kho tàng của họ những thứ tốt, người xấu thì rút ra trong kho tàng của họ những thứ xấu. Họ nói, họ hành động theo điều họ có trong nội tâm của họ.

Thật vậy, tôi nói với các ông rằng lười biếng là một khuyết điểm, nhưng thà không làm gì còn hơn là làm điều xấu. Tôi cũng nói với các ông rằng thà nín lặng còn hơn nói lời vô ích và độc ác. Dù là nếu sự nín lặng cũng là nhàn rỗi, nhưng hãy thi hành nó còn hơn là phạm tội bằng cái lưỡi. Tôi bảo đảm với các ông rằng tất cả những lời người ta nói vì rảnh rỗi sẽ bị đòi chứng minh trong ngày phán xét; tôi nói với các ông rằng người ta sẽ bị đòi chứng thực các lời người ta đã nói, và bởi lời nói của họ mà người ta bị kết án. Bởi vậy hãy cẩn thận. Các ông nói rất nhiều điều còn tệ hơn là vô ích, bởi vì chẳng những chúng vô ích, mà chúng còn sinh điều xấu, với mục đích làm xa lìa các con tim khỏi Chân Lý đang nói với các ông.

Các người Pharisêu bàn bạc với các luật sĩ, rồi cùng nhau làm bộ lịch sự để hỏi Người: “Thưa Thầy, bởi vì nhìn thấy thì dễ tin hơn. Vậy xin Thầy cho chúng tôi một dấu hiệu để chúng tôi có thể tin rằng Thầy là như Thầy nói”.

–      Có phải các ông đã nhận thấy rằng các ông có cái tội chống lại Thánh Linh, đấng đã nhiều lần chứng tỏ rằng tôi là Ngôi Lời Nhập Thể? Ngôi Lời và Cứu Chúa, đến vào thời gian đã chỉ định, được đi trước và được theo sau bởi các dấu hiệu tiên tri, làm những điều Thánh Linh nói.

Họ trả lời: “Chúng tôi tin vào Thánh Linh, nhưng làm sao chúng tôi có thể tin vào Thầy, nếu tận mắt chúng tôi không xem thấy một dấu hiệu?”

–      Làm sao các ông có thể tin vào Thánh Linh mà các hành động của Người là siêu nhiên, nếu các ông không tin vào các hành động của tôi là những thứ dễ cảm đối với con mắt các ông? Đời tôi đầy những hành động đó. Bấy nhiêu còn chưa đủ sao? Không. Chính tôi trả lời là không. Không đủ. Thế hệ gian dâm và đồi bại này tìm một dấu hiệu, nó chỉ được ban cho một dấu hiệu: dấu hiệu của tiên tri Jonah. Quả vậy, cũng giống như Jonah đã ở lại ba ngày trong bụng cá he, Con Người cũng ở lại ba ngày trong lòng đất. Thật vậy, tôi nói với các ông rằng đến ngày phán xét, dân thành Ninive sẽ sống lại cùng với tất cả những người khác, và họ sẽ đứng lên để chống lại thế hệ này và kết án nó, vì họ nghe lời tiên tri Jonah và đã sám hối, còn các ông thì không. Và ở đây có đấng còn cao trọng hơn Jonah nhiều. Cũng thế, hoàng hậu phương nam cũng sẽ sống lại chống đối các ông và kết án các ông, vì bà đã từ chân trời góc biển đến để nghe lời khôn ngoan của Salômôn. Ở đây có đấng còn hơn Salômôn nhiều.

–      Tại sao Thầy nói rằng thế hệ này gian dâm và đồi trụy? Nó không tệ hơn các thế hệ khác, nó cũng có những vị thánh như các thế hệ khác. Xã hội Israel đâu có thay đổi. Thầy xúc phạm đến chúng tôi.

–      Chính các ông xúc phạm đến các ông, bằng cách làm thiệt hại cho linh hồn các ông, bởi vì các ông đẩy nó ra xa Chân Lý, và vì thế, xa phần rỗi. Nhưng dù sao tôi cũng trả lời cho các ông: thế hệ này chỉ thánh ở y phục và vẻ bề ngoài. Trong nội tâm, nó không thánh. Trong Israel có nhiều tên giống nhau để chỉ cùng một sự vật, nhưng không có cái thực tế của sự vật: cùng một phong tục, cùng một y phục, cùng một nghi thức, nhưng nó thiếu linh hồn. Các ông gian dâm vì các ông đã ruồng bỏ cuộc hôn nhân thiêng liêng với Lề Luật của Thiên Chúa; và trong liên lạc ngoại tình lần thứ hai, các ông đã cưới lấy luật của Satan. Các ông chỉ cắt bì trong một cơ quan hư nát, con tim không được cắt bì. Các ông xấu vì các ông đã bán mình cho Đứa Xấu. Tôi nói xong rồi.

–      Thầy xúc phạm đến chúng tôi nhiều quá! Nhưng nếu quả như vậy thì tại sao Thầy không giải thoát Israel khỏi ma quỉ để nó trở nên thánh?

–           Israel có muốn không? Không. Những kẻ khốn nạn này đến để được giải thoát khỏi ma quỉ thì muốn, bởi vì họ cảm thấy ở trong họ một gánh nặng và một sự xấu hổ. Các ông thì không cảm thấy vậy, cho nên các ông có được giải thoát cũng vô ích, bởi vì không có ý muốn được giải thoát, các ông sẽ bị chiếm lại ngay một cách mạnh mẽ hơn.

Khi thần ô uế ra khỏi một người, nó lang thang trong những nơi khô cằn để tìm chỗ nghỉ nhưng không tìm thấy – hãy ghi chú là không phải nói về những nơi khô cằn về vật chất. Chúng khô cằn vì chúng hận thù đối với nó và không tiếp đón nó, cũng như vùng đất khô cằn hận thù với hạt giống – khi đó nó nói: ta sẽ trở lại căn nhà mà ta đã bị đuổi ra bởi một sức mạnh và ngoài ý muốn của nhà ấy, chắc chắn nó sẽ tiếp đón ta và cho ta nghỉ ngơi. Quả vậy, nó trở lại với kẻ thuộc về nó, và thường nó thấy họ sẵn sàng tiếp đón nó.

Bởi vì tôi nói thực với các ông, người ta thường nuối tiếc Satan hơn là nuối tiếc Thiên Chúa. Nếu Satan không chụp lấy các cơ quan của họ bởi một sự chiếm cứ khác thì họ sẽ than van. Vậy nó trở lại, nó thấy nhà ấy trống trải, quét dọn sạch sẽ, có trang hoàng và thơm tho vì trong sạch, nó liền đi kiếm bảy quỉ khác nữa, vì nó không muốn mất nhà này nữa. Với bảy thần trí còn xấu hơn nó, nó vào và tất cả cư ngụ ở đó. Vậy tình trạng thứ hai này của người đã trở lại một lần, rồi lại hư hỏng lần thứ hai, sẽ tệ hơn tình trạng lúc trước.

Bởi vì ma quỉ nó có thể ước lượng người này có cảm tình với Satan và vô ơn đối với Thiên Chúa tới cỡ nào, và bởi vì Thiên Chúa cũng không trở lại nơi người ta đã dày đạp các ơn của Người. Và những kẻ đã cảm thấy bị chiếm hữu rồi, sẽ lại mở cánh tay ra cho một sự chiếm hữu mạnh hơn. Sự rơi lại trong tay Satan còn tệ hơn sự tái ngã vào bệnh lao phổi chí tử đã được chữa một lần rồi.

CHÚA GIÊSU CHỮA NGƯỜI BỊ QUỶ BENZÊBUT ÁM

Giêsu và các người của Ngài băng qua các miền quê. Ở đây mùa gặt lúa mì đã chấm dứt và cánh đồng giơ ra những gốc rạ nóng cháy. Giêsu theo một đường mòn có bóng mát và nói chuyện với những người cùng đi với các tông đồ. Một người nói:

–      Đúng, không gì chữa được nó. Nó còn tệ hơn là điên. Và Thầy biết không? Nó là sự sợ hãi cho mọi người, nhất là các phụ nữ, vì nó đi theo các bà với những lời đùa dỡn tục tĩu. Và sẽ khốn nạn nếu nó bắt họ.

–      Người ta không bao giờ biết được nó ở đâu – một người khác nói. “Trên núi, trong rừng, trong đồng lúa… Nó xuất hiện bất ngờ như một con rắn… Các phụ nữ sợ vô cùng. Có một bà còn rất trẻ, ở ngoài sông về, thình lình bị nó túm. Bà bị sốt nặng và chết trong vài ngày”.

–      Một bữa khác, ông anh rể của con bị chết bố vợ, anh đến mộ của gia đình, nơi anh chuẩn bị phần mộ cho anh và các người nhà anh. Anh tới đó để chuẩn bị cho đám táng, nhưng anh phải chạy trốn, vì tên bị ám ở trong đó, trần truồng, la hét như thường lệ. Nó ném đá để đe dọa anh… Nó chạy theo anh ta gần tới làng, rồi nó trở về ngôi mộ, và anh ta phải chôn người chết của anh trong ngôi mộ của con.

–      Và lần này thì nó đã nhớ rằng Tobie và Daniel đã dùng sức mạnh để trói nó và đem nó về nhà nó. Nó nấp trong đám sậy và bùn ở bờ sông để chờ hai ông khi hai ông lên thuyền để đi đánh cá hay qua sông con không biết rõ. Nó đã dùng sức mạnh quỉ thần của nó để nâng chiếc thuyền lên rồi lật úp. Hai ông được cứu bởi phép lạ, nhưng bị mất tất cả những gì trong thuyền, và lôi được thuyền lên với cái sống thuyền bị bể và các mái chèo bị gẫy.

–      Nhưng các con không dẫn nó tới gặp các thầy cả sao?

–      Có. Chúng con đã trói nó như một kiện hàng và mang tới tận Jêrusalem… Ôi! Một cuộc hành trình! Thật là một cuộc hành trình! Con đã ở trong số đó, và con nói với Thầy là khỏi cần phải xuống hỏa ngục để biết ở đó đã xảy ra những gì, và người ta nói với nhau những gì. Nhưng việc đó chẳng được ích lợi gì hết.

–      Vẫn như trước?

–      Còn tệ hơn nữa.

–      Nhưng… Thầy cả!…

–      Nhưng anh muốn gì?… Phải có…

–      Cái gì? Nói tiếp đi!…

Yên lặng.

–      Nói đi chứ ! Đừng sợ. Thầy không kết án các con đâu.

–      Đây… Con nói… nhưng con không muốn phạm tội… Con nói rằng… Vâng… Vị thầy cả có thể thành công nếu… nếu…

–      Nếu ông ấy thánh. Con muốn nói vậy mà con không dám. Thầy, Thầy bảo con: đừng xét đoán. Nhưng điều con nói là một sự thật, sự thật một cách đau đớn!…

Giêsu nín lặng và thở dài. Một sự yên lặng nặng nề.

Rồi một người lại dám nói: “Nếu chúng ta gặp nó, Thầy có chữa cho nó không? Thầy có giải phóng cho miền này không?”

–      Con hy vọng rằng Thầy có thể làm à? Tại sao?

–      Bởi vì Thầy thánh.

–      Thiên Chúa là Đấng Thánh.

–      Thầy là con của Người.

–      Làm sao con biết?

–      Hé! Người ta nói. Và rồi, chúng con là người của con sông, và chúng con biết việc Thầy đã làm hồi ba tuần trăng trước đây. Ai có thể làm ngừng nước lũ, nếu không phải là Con Thiên Chúa?

–      Và Môise? Và Josuê?

–      Các ông đã hành động nhân danh Thiên Chúa và vì vinh quang của Người. Và họ có thể, vì họ thánh. Thầy còn hơn họ nữa.

–      Thầy sẽ làm chứ Thầy?

–      Thầy sẽ làm, nếu chúng ta gặp nó.

Họ tiếp tục con đường. Sức nóng gia tăng, khiến họ rời bỏ con đường để tìm chỗ nghỉ trong một đám cây ở dọc bờ sông. Nó không bị đảo lộn như khi có nước lũ. Mặc dầu mực nước còn cao, nhưng mặt nước phẳng lặng, xanh ngát, lấp lánh dưới mặt trời.

Con đường mòn nở rộng ra, và người ta nhìn thấy mấy căn nhà mầu trắng, chắc là gần tới một ngôi làng. Thoạt đầu thì có những kiến trúc rất trắng với một cửa duy nhất trên vách. Một số mở, một số khác thì đóng kín mít. Chung quanh không thấy ai cả. Các nhà xây rải rác trên vùng đất cằn cỗi, không canh tác, giống như bỏ hoang. Chỉ thấy toàn cỏ xấu và sỏi đá.

–      Cút đi! Cút đi! Hãy trở lui, nếu không, tao giết mày!

–      Đó, tên bị ám! Nó đã nhìn thấy chúng ta. Con đi đây.

–      Con cũng đi.

–      Tôi, tôi đi theo quí vị.

–      Đừng sợ. Hãy ở lại mà coi.

Giêsu tỏ ra bảo đảm tới nỗi các người… can đảm vâng lời, nhưng họ đứng đàng sau Giêsu. Các môn đệ cũng rút ra sau. Giêsu tiến lên một mình cách oai nghiêm, làm như Người không thấy gì và không nghe gì.

– Cút đi! – Tiếng kêu xé tai hợp với tiếng gầm và tiếng rống, không thể nói được là nó thoát ra bởi môi miệng loài người. “Cút đi! Hãy trở lui! Tao giết mày! Tại sao ông theo tôi? Tôi không thể nhìn ông!” Người bị ám nhảy lên, hoàn toàn trần truồng, da ngăm đen, tóc và râu dài, bù xù. Những lọn tóc đen bờm xờm dính đầy lá khô và bụi đất, rơi xuống trước đôi mắt nhìn trừng trừng và đỏ ngầu, đảo lộn trong tròng mắt, rũ xuống tận cái miệng há ra trong tiếng gào thét và những tràng cười điên như trong cơn ác mộng, cái miệng sùi bọt và máu, vì nó đập vào mình bằng những cục đá nhọn và nói: “Tại sao tao không thể giết mày? Ai đã trói buộc sức mạnh của tao? Ông, ông à?” Giêsu nhìn nó và tiến tới.

Kẻ điên lăn lộn trên đất, nó cắn vào mình, sùi bọt nhiều hơn, lấy đá đập vào mình. Rồi nó đứng dậy, chỉ ngón tay trỏ vào Giêsu, nó nhìn Người cách bối rối và nói: “Hãy nghe! Hãy nghe! Đấng đã đến, đó là…”

–      Nín ngay! Ma quỉ của loài người, ta truyền cho ngươi.

–      Không! Không! Không! Tôi không nín. Không. Tôi không nín. Có chuyện gì giữa tôi và ông? Tại sao ông ngược đãi tôi? Nhốt tôi trong nước hỏa ngục còn chưa đủ cho ông sao? Ông đến còn chưa đủ sao mà ông còn giật người ta khỏi tôi? Tại sao ông đuổi tôi ra khỏi đó? Hãy để chúng tôi ở trong các con mồi của chúng tôi. Ông, ông lớn và mạnh. Ông đi qua để chinh phục nếu ông có thể. Nhưng hãy để chúng tôi thưởng thức và phá hoại. Chúng tôi hiện hữu vì điều đó. Ôi! Khốn… Không, tôi không thể nói vậy, không thể nói vậy cho ông, không thể làm cho nó nói vậy cho ông! Tôi không thể nguyền rủa ông! Tôi ghét ông, tôi bách hại ông, tôi chờ để hành hạ ông. Tôi ghét ông, ông và đấng mà ông chiếm hữu. Tôi cũng ghét đấng là Thần Trí của quí vị: Đấng Tình Yêu. Tôi ghét nó. Tôi là sự thù ghét.Tôi muốn nguyền rủa ông, tôi muốn giết ông, nhưng tôi không thể, tôi không thể! Tôi chưa có thể! Nhưng tôi chờ ông, ôi Đức Kitô! Tôi chờ ông. Tôi sẽ thấy ông chết. Ôi! Giờ vui mừng! Không, không phải vui mừng! Ông, chết ư? Không, không phải chết. Và tôi bị thua! Bị thua! Bị thua đời đời!… A!!!” Sự bộc phát đã tới cực độ.

Giêsu tiến lại gần người bị ám, giữ lấy hắn dưới đôi mắt thôi miên chói ngời của Người. Bây giờ Giêsu có một mình. Các tông đồ cũng như dân chúng dừng lại ở đàng sau: dân chúng ở sau lưng các tông đồ, còn các tông đồ thì ở đàng sau Giêsu một quãng ít là ba chục mét.

Dân làng, tôi thấy rất đông và có vẻ giầu, họ ra ngoài vì bị lôi kéo bởi tiếng kêu, và họ nhìn hoạt cảnh. Họ cũng rất sẵn sàng để bỏ chạy, cũng như nhóm đi theo Giêsu. Màn cảnh bây giờ là: Ở giữa là Giêsu với người bị ám, chỉ cách nhau vài mét. Ở đàng sau Giêsu, về phía trái là các tông đồ và dân làng đã đi theo Người, ở phía phải là dân địa phương.

Sau khi đã truyền cho nó nín lặng, Người không nói nữa, Người chỉ nhìn nó trừng trừng. Nhưng bây giờ Người dừng lại và giơ tay về phía người bị ám, Người đang sắp nói gì thì tiếng gào thét trở nên thực sự ghê hồn. Người bị ám vật vã, nhảy về bên phải, bên trái và trong không khí. Có vẻ như nó rình để chạy trốn hay phóng tới, nhưng nó không thể làm. Nó bị chôn chặt tại đó, và ngoài sự quằn quại liên tục của nó, nó không được phép làm cử động nào khác.

Khi Giêsu giơ tay ra, bàn tay xòe thẳng tựa như Người thề, kẻ điên kêu lớn và sau khi nguyền rủa, cười và nói phạm, nó bắt đầu khóc và năn nỉ: “Vào hỏa ngục! Không! Không! Không vào hỏa ngục! Đừng bắt tôi vào đó. Đời sống tôi ngay ở đây cũng đã kinh khủng rồi, trong cái nhà tù của con người này, vì tôi muốn chạy rảo khắp thế giới và đập nát các tạo vật của ông ra thành trăm mảnh. Nhưng ở đó, ở đó, ở đó… Không! Không! Không! Hãy để tôi ở ngoài!…”

–      Hãy ra khỏi người này. Ta truyền cho mi!

–      Không!

–      Ra đi!

–      Không!

–      Ra đi!

–      Không!

–      Nhân danh Thiên Chúa thật, hãy ra ngay!

–      Ôi! Tại sao ông thắng tôi? Nhưng tôi không ra, không. Ông là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, nhưng tôi, tôi là…

–      Mày là ai?

–      Tôi là Benzêbút, tôi là Benzêbút, ông thầy của thế giới, và tôi không tùng phục. Ôi Kitô, tôi thách Ngài đó!

Người bị ám bỗng dưng bất động, cứng đơ, hầu như tôn nghiêm. Nó nhìn Giêsu trừng trừng bằng đôi mắt nảy lửa, chỉ hơi nhúc nhích đôi môi để phát ra những lời khó hiểu, hai tay gấp lại ở cùi chỏ và để lên vai, nó chỉ hơi nhúc nhích.

Giêsu cũng dừng lại. Bây giờ Người khoanh tay trước ngực, nhìn nó đăm đăm. Giêsu cũng hơi mấp máy đôi môi, nhưng tôi không nghe được lời nào.

Những người chứng kiến chờ đợi, nhưng không phải mọi người đều có cùng một ý kiến :

–      Người không trừ được nó.

–      Có chứ! Bây giờ Đức Kitô sắp làm.

–      Không. Tên đó mạnh hơn.

–      Nó quả là mạnh.

–      Đúng.

–      Không.

Giêsu mở cánh tay ra. Mặt Người là ánh sáng cấp bách, tiếng Người như tiếng sấm: “Ra ngay! Đây là lần chót. Ôi! Hỡi Satan! Hãy ra, Ta truyền cho mi!”

– Aaaaaa! – (đây là tiếng kêu kéo dài của một sự tan nát vô tận, còn ghê hơn tiếng kêu của một người bị người ta từ từ đâm lưỡi gươm vào). Rồi tiếng kêu biến thành lời: “Tôi ra, phải, ông thắng tôi, nhưng tôi sẽ báo thù. Ông đuổi tôi, nhưng ông có một thằng quỉ ở bên cạnh ông. Tôi sẽ vào trong nó để chiếm hữu nó, để công hãm nó bằng tất cả quyền lực của tôi. Và đó sẽ không còn là quyền phép của ông để giật mất nó khỏi tay tôi. Luôn luôn và ở mọi nơi, tôi, tác giả của mọi điều ác, tôi sẽ cưu mang các đứa con. Cũng như Thiên Chúa đã đầu thai bởi chính mình, tôi, đây, tôi cũng tự mình đầu thai. Tôi đầu thai trong tâm hồn người ta và họ sinh ra tôi, họ sinh ra một quỉ Satan mới là chính nó, và tôi vui thích, tôi vui thích vì có được một dòng dõi như vậy! Ông và người ta, các ông luôn luôn tìm những tạo vật này, những thứ thuộc về tôi, giống như từng ấy thứ ngã của tôi. Ôi! Kitô, tôi sắp chiếm lấy vương quốc mới của tôi. Như ông muốn, tôi nhường cho ông cái giẻ rách này mà tôi bạc đãi. Để đổi lại kẻ mà tôi nhường cho ông: của bố thí của Satan cho ông, Thiên Chúa, tôi sẽ lấy lại cho tôi một ngàn, mười ngàn bây giờ, và ông sẽ thấy họ khi ông là một miếng giẻ bằng thịt ghê sợ, phơi ra trước sự chế nhạo của loài chó. Trong thời gian tiếp theo đây, tôi sẽ chiếm hàng mười ngàn và hàng trăm ngàn mạng để làm dụng cụ hành hạ ông. Ông tưởng ông thắng tôi khi nâng cao dấu hiệu của ông sao? Các dấu hiệu của tôi sẽ hạ nó xuống và thắng nó… A! Không. Tôi không thắng ông được! Nhưng tôi sẽ hành hạ ông, nơi ông và nơi các người của ông…”

Người ta nghe thấy một tiếng đổ vỡ như tiếng sét, nhưng không có chớp sáng, cũng không có tiếng gầm của sấm, chỉ có tiếng nổ khô như xé. Trong khi người bị ám nằm như chết trên mặt đất, thì gần nơi các môn đệ, một thân cây to đổ xuống đất, tựa như nó bị sét cưa đứt ở khoảng cách mặt đất độ một mét. Nhóm các tông đồ vừa có đủ thời giờ để tránh ra. Rồi các người dân chạy trốn tán loạn theo mọi ngả.

Nhưng Giêsu đã cúi xuống trên kẻ bị quăng xuống đất, Người cầm tay ông, và vẫn cúi như vậy với bàn tay kẻ được giải phóng ở trong tay Người, Người quay lại và nói: “Lại đây, đừng sợ”.

Mọi người tiến lại cách sợ sệt: “Anh ta khỏi rồi. Hãy mang quần áo cho anh ta”. Một người chạy đi.

Người đó tỉnh lại từ từ. Anh ta mở mắt và gặp cái nhìn của Giêsu. Anh ta ngồi dậy. Với bàn tay tự do, anh lau mồ hôi, máu và nước dãi; anh vén tóc ra đàng sau. Anh ta nhìn mình, thấy mình trần truồng trước mặt bao nhiêu người, anh ta xấu hổ, ngồi co ro cuộn tròn lại và hỏi: “Có chuyện gì vậy? Ông là ai? Tại sao tôi ở đây, trần truồng?”

–      Bạn ơi, không có gì. Bây giờ người ta sẽ mang quần áo cho anh, rồi anh hãy trở về nhà anh.

–      Tôi từ đâu tới vậy? Và ông, ông từ đâu tới? – Anh ta nói với giọng mệt mỏi và nhè nhẹ của người bệnh.

–      Tôi, tôi đến từ biển Galilê.

–      Vậy làm sao ông biết tôi? Tại sao ông trợ giúp tôi? Ông tên gì? Có những người chạy tới cùng với quần áo và họ đưa cho người được phép lạ. Và có một bà già tội nghiệp chạy tới. Bà khóc và ôm người được khỏi vào lòng.

–      Con tôi!

–      Má! Tại sao má bỏ con lâu vậy?

Bà già tội nghiệp khóc mạnh hơn. Bà ôm anh ta và vuốt ve. Có lẽ bà sắp nói với anh ta những lời khác nữa, nhưng Giêsu trấn át bà bằng cái nhìn của Người, và Người gợi cho bà ta những lời khác tình nghĩa hơn: “Con ơi, con bệnh rất nặng. Hãy ngợi khen Thiên Chúa đã chữa con, và Đức Mêsia đã thi hành nhân danh Thiên Chúa”.

–      Vị này à? Người tên gì?

–      Giêsu, người Galilê. Nhưng tên Người là Lòng Nhân Từ. Con ơi, hãy hôn tay Người. Hãy xin Người tha cho con những gì con đã làm, và hãy nói… Chắc chắn con đã nói trong…

–      Đúng. Anh ta đã nói trong khi anh ta bị sốt – Giêsu nói để ngăn chặn những lời kém khôn ngoan. “Nhưng không phải anh ta nói. Và Thầy, Thầy không khắt khe với anh. Bây giờ hãy tốt. Hãy tiết dục”. Giêsu nhấn mạnh các tiếng sau cùng, và người đó cúi đầu, vẻ bối rối.

Nhưng điều mà Giêsu tránh cho anh ta thì những người khác không tránh: Đó là các dân giầu trong thành. Bây giờ họ đã tới gần, trong số họ có những pharisiêu quá khích:

–      Ông đã thành công! May mắn cho anh là anh đã gặp ông ta, ông chủ của các quỉ.

–      Tôi bị ám sao? – Anh ta sợ hãi.

Bà già nhỏ nổi giận: “Quân khốn kiếp! Không có tình thương, cũng không biết kính trọng! Loài rắn độc ghê tởm và độc ác! Ông cũng vậy, tên thừa hành vô ích của giáo đường. Ông chủ của các quỉ là Đấng Thánh”.

–      Vậy bà muốn ai có quyền hành trên chúng, nếu không phải là vua và cha chúng?

–      Ôi! Phạm thánh! Kẻ phạm thượng! Hãy bị…

–      Im đi bà ơi! Hãy sung sướng với con bà. Đừng nguyền rủa. Những lời đó chẳng gây cho Thầy buồn rầu hay lo lắng đâu. Tất cả hãy đi bình an. Phúc lành cho những người tốt. Chúng ta đi thôi, các bạn.

–      Con có thể theo Ngài không? – người được chữa lành nói.

–      Không. Hãy ở lại. Hãy là nhân chứng cho Thầy và là niềm vui cho mẹ con. Đi đi.

Và ở giữa những tiếng hoan hô và những tiếng lẩm bẩm khinh bỉ, Giêsu đi qua một phần của thành phố nhỏ, rồi Người đi vào bóng mát của các cây dọc bời sông. Các tông đồ sát lại với Người. Phêrô hỏi: “Thưa Thầy, tại sao thần ô uế lại có thể kháng cự được tới cỡ đó?”

CÁC CON CÓ BIẾT SATAN ĐẾN BẰNG ĐƯỜNG LỐI NÀO KHÔNG?

–      Vì đó là một thần trí hoàn toàn.

–      Những lời đó có nghĩa là gì?

–      Hãy nghe Thầy nói đây: Có những người phó mình cho Satan bằng cách mở ra cho nó một trong các cửa của các mối tội đầu; có những người khác phó mình cho nó hai, ba, bảy lần. Khi một người mở thần trí nó ra cho bảy mối tội đầu, lúc đó một ác thần hoàn toàn sẽ vào trong nó, tức là chính Satan, thủ lãnh đen, đi vào.

Xem thêm: 7 mối tội đầu & 7 tật xấu trong đời sống tâm linh

–      Nhưng người này còn trẻ, làm sao anh ta có thể bị Satan chiếm cứ ?

–      Ôi! Các bạn ơi! Các con có biết Satan đến bằng đường lối nào không? Có ba con đường thông thường, trong đó có một đường không bao giờ thiếu. Ba đường là: dâm đãng, tiền bạc và đầu óc kiêu căng. Dâm đãng là con đường không bao giờ thiếu. Là kẻ tiên phong của mọi dâm ô khác, nó đi qua và rắc nọc độc của nó, và thế là cả một mùa hoa quả thuộc về Satan. Vì vậy Thầy bảo các con: “Hãy làm chủ xác thịt của các con”. Sự chế ngự này là khởi đầu cho những chế ngự khác, cũng như sự nô lệ này là bắt đầu cho những nô lệ khác. Nô lệ tình dục thì sẽ trở thành trộm cắp, lạm dụng chức vụ, độc ác, sát nhân… để phục vụ bà chủ của nó. Chính sự khao khát quyền bính là kẻ kết thân với xác thịt. Các con không thấy vậy sao? Nhưng là vậy đó. Các con hãy suy niệm, và các con sẽ thấy Thầy có lầm không. Chính qua xác thịt mà Satan vào trong con người, và nó sung sướng nếu nó có thể làm. Qua xác thịt, nó vào đó, và nó tăng gấp bảy lên với sự sinh sôi nảy nở của các đạo quân quỉ dưới quyền nó.

–      Maria Magđala, Thầy đã nói là cô ta có bảy quỉ, thầy đã nói vậy, và chắc chắn là các quỉ dâm ô. Nhưng Thầy đã giải thoát cho cô ta cách dễ dàng.

–      Đúng, Judas, đúng vậy.

–      Vậy thì sao?

–      Vậy thì con nói là lý thuyết của Thầy không đứng vững? Không, bạn ơi, người đàn bà đó đã muốn được giải phóng khỏi tình trạng bị chiếm cứ của bà. Bà ta muốn. Ý chí, đó là tất cả.

–      Thưa Thầy, chúng ta thấy có rất nhiều người đàn bà bị giữ bởi ma quỉ. Ta có thể nói là bởi thằng quỉ này không?

–      Mathêu, con thấy là người đàn bà không giống người đàn ông trong cơ cấu tạo thành của họ, và trong phản ứng của họ đối với nguyên tội. Người đàn ông có những mục đích khác cho những khát vọng tốt ít hay nhiều của họ. Người đàn bà có một mục đích: tình yêu. Người đàn ông có cơ cấu khác. Cơ cấu tạo thành của người đàn bà là: sự nhậy cảm của giác quan, nó hoàn bị hơn, vì họ được tiền định để sinh con. Con biết rằng mọi sự hoàn thiện đều làm gia tăng cảm giác. Một thính giác hoàn bị sẽ nghe được những điều mà thính giác ít hoàn bị hơn không nghe được, và nó thưởng thức điều đó. Cũng giống vậy đối với thị giác, vị giác và khứu giác.

Người đàn bà phải là sự êm đềm của Thiên Chúa trên mặt đất. Bà phải là tình yêu, là sự tái sinh cho ngọn lửa tàn, là sự biểu lộ, là nhân chứng cho tình yêu này. Bởi vậy Thiên Chúa đã phú cho họ một tâm hồn đặc biệt nhậy cảm, để một khi làm mẹ, bà biết, và có thể mở mắt tâm hồn cho con cái bà hướng về Thiên Chúa và tha nhân, cũng giống như người đàn ông mở con mắt thông minh cho con họ để hiểu và hành động. Con hãy suy nghĩ về mệnh lệnh mà Thiên Chúa truyền cho chính mình: “Chúng ta hãy làm cho Ađam một người bạn”. Thiên Chúa nhân từ chỉ có thể muốn làm một người bạn tốt cho Ađam. Một người tốt thì biết yêu. Vậy người bạn của Ađam phải có đủ khả năng để yêu, để làm cho hạnh phúc những ngày của con người ở trong khu vườn hạnh phúc. Bà phải có đủ khả năng để làm một Thiên Chúa thứ hai, một cộng tác viên, một người thay thế Thiên Chúa để yêu người đàn ông, tạo vật của Người, để cả trong những giờ mà thiên tính của Người không bộc lộ ra với tạo vật của Người bằng tiếng nói tình yêu của Người, thì con người cũng không cảm thấy thiếu tình yêu.

Satan biết sự hoàn bị này. Satan biết rất nhiều điều. Chính nó đã nói qua môi của con rắn để nói những điều dối trá lẫn lộn với những sự thật, và nó ghét những sự thật này. Vì nó là tên dối trá, nó chỉ nói thật – các con hãy nhớ kỹ điều này, tất cả các con cũng như những người sẽ đến sau này – nó chỉ nói sự thật để dụ dỗ bằng sự hão huyền rằng không phải Đứa Tối Tăm nói, mà là Ánh Sáng nói. Satan: quỉ quyệt, nham hiểm, độc ác, nằm ẩn trong sự toàn vẹn này và cắn vào đó, và để lại nọc độc của nó ở đó. Như vậy sự hoàn hảo về tình yêu của người đàn bà đã trở nên cho Satan, một dụng cụ để thống trị người đàn bà và người đàn ông, để làm lan tràn sự ác…

–      Vậy mẹ của chúng ta?

–      Gioan, đừng sợ cho các bà. Không phải hết mọi đàn bà đều là dụng cụ của Satan. Vì hoàn bị trong tình cảm, các bà luôn luôn quá mức trong hành động. Các bà là những thiên thần nếu các bà muốn thuộc về Thiên Chúa, là ma quỉ nếu các bà muốn thuộc về Satan. Các đàn bà thánh – mà mẹ con là một trong các bà này – muốn thuộc về Thiên Chúa, và họ là các thiên thần.

–      Thưa Thầy, Thầy có thấy là bất công khi phạt người đàn bà không? Đàn ông cũng phạm tội vậy.

–      Vậy còn phần thưởng thì sao? Có lời chép rằng: chính bởi người đàn bà mà Sự Lành trở lại trên thế gian, và Satan bị thua. Vậy đừng bao giờ xét đoán công việc của Thiên Chúa, bắt đầu là việc này. Hãy nghĩ rằng: chính vì người đàn bà mà sự dữ đã tới, thì cũng đúng là chính bởi người đàn bà mà Sự Lành đến trong thế gian. Như vậy để triệt tiêu một trang mà Satan đã viết, và rồi chính là nước mắt của một người đàn bà sẽ làm việc đó. Và bởi vì Satan phát ra tiếng kêu đời đời của nó, nên đây, tiếng của một người đàn bà sẽ hát lên để làm át nó đi.

–      Khi nào?

–      Thực sự thì Thầy bảo các con rằng tiếng của bà đã bay xuống từ Trời, nơi bà đã hát lời Alleluia vĩnh cửu của bà.

–      Bà sẽ lớn hơn cả Judith?

–      Lớn hơn tất cả mọi đàn bà.

–      Bà sẽ làm gì? Vậy bà sẽ làm gì?

–      Bà sẽ làm ngược lại với Evà, ngược lại với cái tội chắp ba của Evà: Vâng lời tuyệt đối, trong sạch tuyệt đối, khiêm nhường tuyệt đối. Chính về những điểm đó mà bà sẽ đứng lên, là hoàng hậu và chiến thắng.

–      Nhưng Giêsu ơi, đó là mẹ Thầy phải không? Vì đã cưu mang Thầy.

–      Kẻ lớn là kẻ làm theo ý muốn của Thiên Chúa. Chính vì vậy mà Maria vĩ đại. Mọi ơn phúc khác đều từ Thiên Chúa mà đến, nhưng về điều này thì hoàn toàn là của bà. Và nguyện bà được chúc phúc.

Leave a Reply