Sau đây là thị kiến hành trình về Bétlem (Bethlehem) của thánh cả Giuse và Mẹ Maria để khai trình nguyên quán theo lệnh kiểm kê dân số trong toàn Palestin. Khi đến Bétlem, Hài Nhi Giêsu Kitô, Chúa chúng ta đã sinh ra và dưới đây là chi tiết:

(Cuộc trò chuyện này trước khi đi Bétlem)

Giuse ngồi xuống gần bàn. Ông tì khuỷu tay lên bàn và tựa đầu vào một bàn tay. Trong vẻ lo lắng, ông vuốt ve, vuốt ve hàm râu bằng bàn tay kia.

 – Có gì lo lắng làm anh khổ? Em có thể an ủi anh được không? – Maria hỏi.

 – Maria, em luôn luôn là sự an ủi của anh. Nhưng lần này, đây là một lo âu lớn… cho em.

 – Cho em à Giuse? Vậy có chuyện gì đó?

 – Họ đã dán một chiếu chỉ ở cửa giáo đường. Đó là lệnh kiểm kê dân số trong toàn thể Palestin. Phải tới khai trình tại nguyên quán của mình. Đối với chúng ta, chúng ta phải đi Bétlem…

 – Ôi! – Maria ngắt lời trong khi để tay lên bụng.

 – Điều đó làm em xúc động phải không? Thật gay go! Anh biết.

 – Không, Giuse, không phải vậy. Em nghĩ… Em nghĩ tới Thánh Kinh: Raken, mẹ của Benjamin, và là vợ Jacob, mà từ ông sẽ sinh ra Ngôi Sao là Đấng Cứu Tinh. Raken được chôn cất tại Bétlem mà có lời rằng: “Và ngươi, hỡi Bétlem Ephrata, ngươi là vùng nhỏ bé nhất xứ Juđa, nhưng đấng thống trị sẽ từ ngươi mà ra”. Đấng thống trị đã được hứa cho dòng dõi Đavít, Người sẽ sinh ra ở đó.

CUỘC HÀNH TRÌNH VỀ BÉTLEM

 Tôi thấy một con đường lớn. Rất đông người chen chúc cùng với lừa ngựa đi về, chất đầy đồ và người. Họ thúc các con vật dấn bước. Các người đi bộ cũng vội vã vì trời lạnh.

CUỘC HÀNH TRÌNH VỀ BÉTLEM & CHÚA GIÊSU GIÁNG SINH
(Ảnh minh họa. Source: bluearmy.com)

 Không khí trong sạch và khô. Bầu trời thanh quang, nhưng tất cả đều cho thấy có vẻ chính xác là một ngày giữa mùa đông. Đồng quê trơ trụi nên có vẻ mênh mông hơn. Các đồng cỏ chỉ có lớp cỏ ngắn bị cháy bởi gió mùa đông. Trên các đồng cỏ, các đoàn vật tìm kiếm một chút đồ ăn, và tìm mặt trời lộ ra cách chậm chạp. Chúng tựa sát vào nhau, vì chúng cũng lạnh. Chúng kêu bê bê, ngửa mũi lên nhìn mặt trời như muốn nói: “Tới mau đi kẻo lạnh quá!” Các vùng đất để lộ những dợn sóng càng ngày càng rõ, một quang cảnh đích thực của các ngọn đồi. Có những chỗ lõm đầy cỏ, các sườn dốc, các thung lũng nhỏ và các đỉnh cao. Con đường nằm ở giữa và hướng về phía đông nam.

 Maria ngồi trên con lừa xám, bao bọc rất kỹ trong áo khoác dầy. Trên yên ở phía đàng trước, có cái giá đã nhìn thấy trong cuộc hành trình đi Hébron. Ở trên giá là cái rương và các vật dụng cần thiết.

 Giuse cầm giây cương, đi ở bên cạnh: “Em mệt không?” Thỉnh thoảng ông lại hỏi.

 Maria nhìn ông và mỉm cười nói: “Không”. Lần thứ ba thì cô thêm: “Đúng ra là anh mệt vì phải đi bộ”.

 – Ôi! Anh. Đối với anh thì không sao cả. Anh nghĩ rằng nếu anh tìm được một con lừa khác thì em sẽ có thể được thoải mái hơn, và chúng ta có thể đi lẹ hơn. Nhưng anh không tìm được. Lúc này mọi người đều cần đến các con vật. Nhưng can đảm lên! Chúng ta sắp sửa tới Bétlem rồi. Ở bên kia ngọn núi này là Ephrata.

 Họ giữ yên lặng một lát. Đức Trinh Nữ, khi cô không nói là cô trầm mặc trong lời cầu nguyện nội tâm. Cô hơi mỉm cười với một trong các tư tưởng của cô, trong khi mắt không rời đám đông, nhưng dường như cô không còn thấy đàn ông hay đàn bà, người già hay mục đồng, người giàu hay người nghèo… Điều cô thấy chỉ là chính cô mà thôi.

 – Em lạnh không? – Giuse hỏi, vì gió nổi lên.

 – Không, cám ơn anh.

 Nhưng Giuse không tin tưởng. Ông rờ vào chân cô đang buông thòng ở sườn con lừa, bàn chân đi xăng-đan mà người ta chỉ thấy hơi lú ra ngoài áo dài. Chắc chân lạnh, vì ông lắc đầu. Ông liền lấy chiếc mền mà ông đeo trên lưng bằng một sợi giây, và ông phủ lên chân Maria lên tới bụng, để đôi tay cũng được ấm dưới lớp mền và lớp áo khoác.

 Họ gặp một người mục đồng cùng với đoàn vật của ông đi băng qua đường, khi chúng di chuyển từ đồng cỏ bên phải qua bên trái. Giuse cúi xuống để nói với người mục đồng điều gì. Người này làm một cử chỉ ưng thuận. Giuse dắt con lừa và đi theo sau đoàn vật vào đồng cỏ. Người mục đồng kéo từ trong bị của ông ra một cái tô lớn, ông vắt sữa của một con cừu có cặp vú căng phồng, ông đưa cái tô cho Giuse và Giuse đưa cho Maria.

 – Nguyện Thiên Chúa chúc phúc cho cả hai – Maria nói. “Cho anh vì tình yêu của anh, và cho ông vì lòng tốt của ông”.

 – Ông bà từ xa đến?

 – Từ Nazarét – Giuse trả lời.

 – Và ông bà đi đâu?

 – Đi Bétlem.

 – Cuộc hành trình quá dài cho người đàn bà đang ở trong tình trạng này. Đó là vợ ông?

 – Phải, vợ tôi.

 – Quí vị có nơi nào để tới không?

 – Không.

 – Rất phiền đó: Bétlem đầy người từ khắp nơi tới để đăng ký hay để đi nơi khác, để làm cùng một thủ tục. Tôi không biết quí vị có tìm được chỗ trọ không. Quí vị có quen miền đó không?

 – Không nhiều lắm.

 – Vậy tôi chỉ cho ông… vì lẽ bà (và ông chỉ vào Maria). Hãy tìm tới cái quán, nó sẽ đầy rồi đó. Nhưng tôi chỉ nó cho ông để ông có một cái đích đến. Nó ở bên cạnh một quảng trường, cái lớn nhất. Quí vị đi theo con đường chính. Quí vị không lộn được đâu. Có một cái vòi nước ở trước cái quán lớn và thấp, có cổng vào. Nó sẽ hết chỗ. Nhưng nếu quí vị không tìm được gì ở trong quán và trong các nhà, quí vị hãy đi ra sau quán, về hướng đồng quê. Có một cái chuồng ngựa ở trong núi, đôi khi dùng cho các lái buôn đi về Jêrusalem, và để giữ các con vật khi không có chỗ ở trong quán.

Đó là cái chuồng ngựa, quí vị hiểu không? Nó ở trong núi: ẩm thấp, lạnh và không có cửa. Nhưng nó luôn luôn là một chỗ trú, bởi vì bà… không thể ở ngoài đường. Có lẽ ở đó ông bà sẽ tìm thấy một chỗ có rơm cỏ để ngủ, và cũng cho con lừa nữa. Nguyện Thiên Chúa đi với quí vị.

 – Và nguyện Thiên Chúa ban cho ông niềm vui – Maria trả lời. Rồi đến lần Giuse, ông nói: “Bình an cho ông”.

 Họ lại lên đường. Một thung lũng mênh mông hơn hiện ra từ bờ dốc mà họ phải băng qua. Trong thung lũng cũng như ở trên và ở dưới các sườn dốc bao quanh nó, có những căn nhà, và vẫn còn nhiều căn nhà nữa. Đó là Bétlem.

 – Maria, đây, chúng ta đã ở trong vùng đất của Đavít. Bây giờ em sắp được nghỉ. Anh thấy em quá mệt rồi…

 Maria cầm lấy bàn tay Giuse và nói với ông trong nụ cười rạng rỡ: “Không, em nghĩ… em nghĩ… Em tin là thực tình đã đến giờ rồi”.

 – Lạy Thiên Chúa Tình Thương! Chúng ta sẽ làm sao đây?

 – Đừng sợ, Giuse. Đừng băn khoăn bối rối. Anh coi em bình tĩnh chừng nào!

 – Nhưng em đau lắm phải không?

 – Ồ, không, em đầy tràn vui mừng. Một niềm vui như vầy: quá mạnh, quá đẹp, không thể kháng cự, đến nỗi quả tim em đập mạnh và nó bảo em: “Người sinh ra! Người sinh ra!” Nó nói vậy ở mỗi nhịp đập. Chính con em gõ vào cửa lòng em: “Má ơi! Con đây! Để cho má cái hôn của Thiên Chúa”. Ôi! Giuse! Vui chừng nào!

 Nhưng Giuse không vui được. Ông nghĩ tới việc khẩn cấp phải tìm một chỗ ẩn náu, và ông dấn bước. Từ cửa nọ qua cửa kia, ông xin một chỗ trú. Không có gì cả. Tất cả đều đầy. Họ tới cái quán. Nó đầy ra cả tới hết các hành lang bao quanh cái sân lớn. Người ta ở cả ngoài trời, trong sân.

 Giuse để Maria ngồi trên lừa trong sân để ra ngoài tìm chỗ tại các căn nhà khác. Ông trở lại, thất vọng. Không còn một chỗ nào. Hoàng hôn đến sớm của mùa đông bắt đầu căng màn của nó. Giuse năn nỉ người chủ quán, ông năn nỉ các khách trọ. Họ là những người khỏe mạnh, còn đây là một đàn bà sắp sinh con, cầu mong họ thương xót. Kìa, một người Pharisêu giàu có nhìn ông với sự khinh bỉ rõ ràng, và khi Maria lại gần, ông ta tránh ra, làm như ông ta đến gần một người cùi. Giuse nhìn ông Pharisêu và mầu đỏ của phẫn nộ bốc lên mặt ông. Maria cầm lấy cổ tay của Giuse để ông bình tĩnh và nói: “Đừng năn nỉ. Chúng ta đi thôi. Thiên Chúa sẽ lo liệu”.

 Họ ra, đi lần theo bức tường của quán trọ. Họ rẽ vào một lối đi ở giữa bức tường đó và các căn nhà nghèo, họ đi vòng quán trọ, họ tìm kiếm. Đây, các loại hốc đá. Tôi nói là những cái hang thì đúng hơn là các chuồng ngựa, bởi vì chúng rất thấp và ẩm ướt. Cái đẹp nhất đã có người chiếm. Giuse cảm thấy bị đè nặng.

 – Ohé! Ông Galilê! – một người già gọi ở đàng sau ông. “Ở đàng kia, tận cuối, dưới những đổ nát, có một cái hang, chắc chưa có ai”.

 Họ tới gần cái hang này. Thực tình là cái hang. Giữa những ngổn ngang của một căn nhà đổ nát, có một chỗ trú. Bên trong chỗ này lại có một cái hang đá, một cái lỗ của núi thì đúng hơn là hang đá. Chắc đây là nền của một công trình xây cất cổ mà mái được chống đỡ bằng những thân cây được gọt hơi vuông.

 Để nhìn cho rõ, vì còn rất ít ánh sáng ban ngày, Giuse lấy bùi nhùi và diêm quẹt ra. Ông đốt lên ngọn đèn nhỏ mà ông lấy ra từ cái bị ông đã buộc bằng sợi giây. Ông vào trong. Một tiếng bò rống chào ông: “Tới đi Maria, nó trống rỗng, chỉ có một con bò. Có còn hơn không!…”

 Maria đặt chân xuống đất và đi vào.

 Giuse đã treo cái đèn nhỏ vào một cái đinh được đóng vào một trong những thân cây dùng làm cột. Người ta thấy trên vòm phủ đầy màng nhện, nền bằng đất nện, và khắp nơi là những lỗ nứt, những sỏi đá, những rác rến và phân súc vật với cỏ rơm. Từ cuối hang, một con bò quay ra và nhìn với đôi mắt to bình thản, trong khi rơm cỏ đeo ở môi nó. Trong một góc gần một khe hở, có một cái ghế thô kệch và một tảng đá. Màu đen của cái góc này cho ta biết rằng đây là chỗ người ta đốt lửa.

 Maria lại gần con bò. Cô bị lạnh nên cô để tay lên cổ nó để cảm thấy sức nóng. Con bò kêu rống lên và để cho cô làm, dường như nó hiểu. Cũng như vậy khi Giuse đẩy nó ra xa hơn để lấy thêm cỏ ở trong máng để làm một cái giường cho Maria. Máng có hai tầng: bên dưới là chỗ con bò ăn, bên trên là kệ chất cỏ dự trữ. Giuse lấy cỏ ở trên kệ. Con bò để cho ông làm. Ông cũng dọn một chỗ cho con lừa. Nó mệt và đói nên bắt đầu ăn ngay. Giuse cũng tìm được một cái sô lồi lõm méo mó, ông đi ra ngoài, bởi vì bên ngoài có một cái suối, và ông trở về với nước cho con lừa. Rồi ông lấy một nắm cành cây nhỏ ở trong góc làm cái chổi dễ để quét hang. Sau đó ông trải rơm để làm ổ ở gần con bò, chỗ khô ráo nhất và khuất gió nhất. Nhưng khi thấy cỏ ẩm, ông thở dài. Ông nhóm lửa, và với sự kiên nhẫn như thể ông Gióp, ông sấy cỏ từng nắm một, bằng cách hơ nó vào gần lửa.

 Maria ngồi trên cái ghế, mệt mỏi, nhìn và mỉm cười. Khi đã xong, cô ngồi trên cỏ mềm, tựa vai vào một cây cột. Giuse hoàn tất… các đồ trang trí và căng áo khoác của ông trên cửa hang như tấm màn, một sự che chở rất tương đối. Rồi ông phục vụ bánh và phó mát cho Đức Trinh Nữ, và cho Người uống nước trong một cái vò. Sau đó ông nói: “Bây giờ em ngủ đi. Anh canh chừng để lửa không tắt. May thay có sẵn củi. Chúng ta hy vọng nó tiếp tục cháy, anh có thể tiết kiệm dầu đèn”.

 Maria vâng lời nằm ra, Giuse đắp cho cô bằng chính áo khoác của cô, cùng với cái mền đã che chân lúc trước.

 – Nhưng anh… Anh bị lạnh.

 – Không, Maria, anh ở lại gần bên lửa. Cố nghỉ ngơi đi, ngày mai sẽ khá hơn.

 Maria nhắm mắt không chờ lời yêu cầu. Giuse thu mình trong góc, ngồi trên ghế với các cành cây ở bên cạnh. Chỉ có ít cành, tôi nghĩ nó không kéo dài được lâu.

 Đây là vị trí của họ: Maria ở bên phải, quay lưng ra cửa, bị khuất một nửa bởi cây cột và thân con bò đang nằm sấp trên ổ của nó. Giuse ngồi bên trái, quay mặt ra cửa ở trước đống lửa, bởi vậy ngồi xéo với một vai quay về phía Maria. Thỉnh thoảng ông quay nhìn Maria và ông thấy cô nằm êm tựa như cô ngủ. Ông dùng rất ít cành cây và chỉ ném từng cành một vào lửa để nó không tắt, để có ánh sáng, và để số củi ít ỏi này duy trì được ngọn lửa. Chỉ còn có ánh lửa của than, vì ngọn lửa lúc cháy lúc tắt. Ngọn đèn cũng tắt vì hết dầu. Trong bóng tối, chỉ còn thấy mầu trắng của con bò, của mặt và tay Giuse. Tất cả những thứ khác chỉ là một khối tan trong bóng tối dầy đặc.

CHÚA GIÊSU GIÁNG SINH

 Tôi còn thấy bên trong nơi trú ngụ tội nghiệp mà Giuse và Maria đã tìm được bằng cách chia sẻ số phận với các con vật.

 Đống lửa đã ngủ cùng với người canh gác nó. Maria nhè nhẹ ngóc đầu lên khỏi chỗ nằm và nhìn. Cô thấy Giuse, đầu cúi xuống trên ngực như ông suy nghĩ, và cô nghĩ rằng sự mệt mỏi đã thắng thiện chí muốn canh thức của ông. Cô mỉm cười, một nụ cười nhân hậu. Cô ngồi dậy và quì gối, gây ra ít tiếng động hơn một con bươm bướm lúc nó đậu vào bông hoa hồng. Cô cầu nguyện với nụ cười rạng rỡ trên mặt. Cô cầu nguyện với hai tay giơ ra, không hoàn toàn như hình Thánh Giá, nhưng gần giống: hai tay giơ cao và hướng về phía trước, bàn tay ngửa lên trên. Cô không có vẻ mệt trong vị trí khó chịu này. Rồi cô gục xuống, mặt ở trong cỏ, trong lời cầu nguyện sâu thẳm. Một lời cầu nguyện kéo dài.

 Giuse sực tỉnh, ông thấy than đã gần tàn và hang hầu như tối đen. Ông ném một nắm cành nhỏ vào than để khơi lửa dậy. Rồi ông thêm vào những cành lớn hơn, rồi cành lớn hơn nữa, vì khí lạnh như cắt da. Giá lạnh của một đêm đông yên hàn lọt vào khắp chỗ trong nơi đổ nát này. Ông Giuse tội nghiệp ở ngay gần cửa (ta gọi chỗ ông giăng áo khoác để che là cửa). Chắc ông lạnh lắm. Ông giơ tay trên lửa, ông cởi xăng-đan và giơ chân trên lửa. Ông sưởi cho mình. Khi lửa đã cháy to và ánh sáng chắc chắn, ông quay lại mà không thấy gì cả, cả chiếc voan trắng của Maria vẫn có vết rõ trên cỏ tối, ông cũng không thấy. Ông đứng dậy và từ từ lại gần ổ rơm.

 – Maria, em không ngủ à? – ông hỏi. Ông hỏi tới ba lần cho tới khi Maria nhận ra và trả lời: “Em cầu nguyện”.

 – Em không cần gì sao?

 – Không đâu Giuse.

 – Cố ngủ tí đi, ít là nghỉ ngơi.

 – Em sẽ cố. Nhưng việc cầu nguyện không làm em mệt.

 – Chào Maria.

 – Chào Giuse.

 Maria lấy lại vị trí của cô. Giuse, để không bị cuốn vào giấc ngủ, đã quì gối gần bên lửa và ông cầu nguyện. Ông cầu nguyện với hai bàn tay áp vào mặt. Ông chỉ bỏ tay ra để bỏ củi vào lửa, rồi ông lại trở về với lời cầu nguyện nồng nàn của ông. Ngoài tiếng tí tách của củi và tiếng sột soạt của chân lừa thỉnh thoảng đập trên đất, người ta không nghe thấy gì nữa.

 Một giải ánh trăng lọt vào hang qua khe hở của vòm hang, trông giống như một lưỡi dao bằng bạc vô vật chất, nó lọt vào và tìm Maria. Nó giải ra từ từ theo đà vị trí của mặt trăng lên trong bầu trời, và sau cùng nó bò tới chỗ cô. Đây, nó ở trên cái đầu đang cầu nguyện, nó đội triều thiên cho cô bằng vầng sáng trắng.

 Maria ngẩng mặt lên như có tiếng gọi từ trời. Rồi cô lại quì gối. Ôi! Ở đây đẹp chừng nào! Cô ngẩng đầu lên như rực rỡ bởi ánh trăng, và cô biến hình với một nụ cười không thuộc về nhân loại. Cô thấy gì? Cô nghe gì? Cô cảm thấy gì? Chỉ có cô mới có thể nói điều cô thấy, nghe và cảm, vào giờ lóe sáng của chức làm mẹ. Tôi chỉ nhận thấy rằng ở chung quanh cô, ánh sáng gia tăng, gia tăng, gia tăng. Tôi nói cô từ trời xuống, cô bốc ra từ những vật hèn mọn chung quanh cô, cô bốc ra nhất là từ chính cô.

 Y phục mầu lam của cô, lúc này nó có mầu xanh dương êm như bầu trời, với mầu hoa lưu ly. Đôi tay và khuôn mặt trở nên xanh biếc, tựa như nó ở dưới ngọn lửa mênh mông của lam ngọc sáng. Mầu sắc này nhắc lại cho tôi, mặc dù nhẹ hơn, màu sắc mà tôi nhìn thấy trong thị kiến về Thiên Đàng, và cả trong thị kiến về việc ba nhà Đạo Sỹ tới. Nó tỏa ra trên mọi thứ càng lúc càng mạnh, bao bọc chúng, thanh tẩy chúng, thông cho chúng sự huy hoàng của nó.

 Ánh sáng từ cơ thể Maria tỏa ra càng lúc càng mạnh, thấm hút lấy hết ánh trăng. Ta có thể nói là cô hút lấy vào trong cô tất cả những gì có thể từ trời mà tới. Bây giờ chính cô là người nhận lãnh ánh trăng, cô: kẻ phải ban Ánh Sáng này cho thế gian. Và Ánh Sáng chói lọi, không thể cản, không thể ước lượng, vĩnh cửu, thuộc về Thiên Chúa này sắp được ban cho thế gian, được loan báo bằng một rạng đông, một hiệu báo thức, một bừng lên của ánh sáng, một cơ binh của các nguyên tử ánh sáng lớn lên, trải ra như thủy triều dâng lên, dâng lên như một làn hương mênh mông, đổ xuống như thác, tỏa ra như tấm màn…

 Cái vòm hang đầy vết nứt, đầy màng nhện, đầy lồi lõm lỉnh kỉnh, như trở nên đều hòa một cách lạ lùng; khói đen và những ghê tởm trở nên như vòm cung của phòng vua; mỗi viên gạch là một khối bạc, mỗi vết nứt là một luồng sáng mắt mèo, mỗi cái màng nhện là một chiếc rèm thêu bạc và kim cương. Một con thằn lằn lớn ngẩn ngơ ở giữa hai tảng đá trông như một sợi giây chuyền bích ngọc của bà hoàng hậu để quên. Một chùm dơi dơi đần độn phát ra ánh sáng quí của vân mã não. Cỏ rơm đeo lòng thòng trên máng trên cao không còn là cỏ nữa: đó là vô số sợi bạc ròng rung rinh trong không khí với sự duyên dáng của mái tóc buông.

 Cái máng ở dưới thấp bằng gỗ thô kệch đã trở thành khối bạc nâu, các bức tường được phủ một lớp gấm mà mầu trắng của lụa đã biến mất dưới lớp ngọc trai thêu nổi. Và nền đất… Nền đất bây giờ thế nào? Một khối pha lê được soi sáng bằng ánh sáng trắng. Những dơ bẩn trông như những bông hồng sáng loáng được tung lên để chúc tụng và rơi xuống đất, và các lỗ là các chén quí đựng dầu thơm.

 Ánh sáng càng lúc càng gia tăng, con mắt không thể chịu nổi nữa, trong đó Đức Trinh Nữ như bị thấm hút bởi màn ánh sáng cực mạnh, bị dìm ngập và biến mất…

CHÚA GIÊSU GIÁNG SINH
(Ảnh minh họa)

 Rồi mẹ lại tái hiện… Đúng, khi ánh sáng trở nên có thể chịu đựng được đối với con mắt, thì tôi thấy Maria với con mới sinh của Người ở trong tay. Một bé tí đỏ hồng, mũm mĩm, nhúc nhích cựa quậy với đôi bàn tay lớn như hai nụ hồng, và đôi bàn chân bỏ lọt được vào trong lòng một bông hồng, oe oe bằng một giọng run run giống hệt như giọng một con chiên mới sinh, miệng mở ra đỏ như một trái dâu rừng, để lộ cái lưỡi nhỏ đập vào màng cúa mầu hồng, nhúc nhích cái đầu, tóc hoe vàng tới nỗi người ta nghĩ rằng không có tóc; một cái đầu tròn nhỏ mà người má giữ trong lòng một bàn tay khi Người nhìn và thờ lạy bé tí của Người, vừa khóc vừa cười, và Người cúi xuống để đặt một cái hôn, không phải trên cái đầu vô tội, nhưng trên ngực, nơi có một trái tim nhỏ đang đập, đang đập cho chúng ta… Nơi một ngày kia sẽ bị thương. Vết thương này, má Người đã băng bó trước bằng cái hôn vô nhiễm của Người.

 Con bò bị đánh thức bởi ánh sáng, đứng dậy với sự ồn ào lớn của các móng và rống lên; con lừa ngẩng đầu lên và kêu bơ bơ. Ánh sáng đã đánh thức chúng, nhưng tôi thích nghĩ rằng chúng muốn chào Đấng Tạo Hóa của chúng, cho chúng và cho các con vật khác.

 Giuse cũng vậy, giống như xuất thần, ông đã cầu nguyện với bao khẩn thiết đến nỗi như ông ra khỏi tất cả những gì ở chung quanh. Ông nhúc nhích giữa các ngón tay mà ông che mặt, ông như thấy có thứ ánh sáng lạ. Ông bỏ tay ra, ngẩng đầu lên, quay lại. Con bò đứng che nên ông không nhìn thấy Maria. Nhưng cô gọi ông: “Lại đây, Giuse”.

 Giuse chạy tới, và trước cảnh tượng, ông dừng lại như bị sét đánh vì tôn kính. Ông quì sấp mặt xuống tại chỗ. Nhưng Maria nhấn mạnh: “Lại đây, Giuse”. Cô tì bàn tay trái trên cỏ, trong khi cánh tay phải, cô giữ chú bé mà cô ôm ghì vào ngực. Cô đứng dậy và đi lại với Giuse đang ngập ngừng phân vân giữa sự ước ao tiến lại và cái sợ sẽ bất kính.

 Hai vợ chồng gặp nhau ở gần chỗ nằm, họ nhìn nhau và khóc vì vui. Maria nói: “Lại đây, chúng ta dâng Giêsu cho Cha”.

 Trong khi Giuse quì gối, cô đứng ở giữa hai cái cột đỡ vòm hang, cô nâng tạo vật bé nhỏ của cô lên giữa hai tay và nói: “Con đây, ôi Thiên Chúa. Chính về Người mà con nói lời này: Con đây, để làm trọn ý Cha. Và cùng với Người, con là Maria và chồng con là Giuse, lạy Chúa, đây là các tôi tớ của Người, nguyện cho ý Cha được luôn luôn làm trọn bởi chúng con trong mọi giờ và mọi hoàn cảnh, vì vinh quang của Cha và vì tình yêu Cha”. Rồi Maria cúi xuống và nói: “Ẵm lấy đi Giuse”, và cô đưa chú bé tí cho ông.

 – Anh! Anh à? Ôi! Không! Anh không đáng! – Giuse hoàn toàn sợ hãi, thất kinh với ý nghĩ phải đụng vào Thiên Chúa.

 Maria mỉm cười và nhấn mạnh: “Anh rất đáng, không ai xứng đáng bằng anh, vì vậy Thiên Chúa đã chọn anh. Ẵm lấy con đi Giuse. Hãy giữ lấy để em đi tìm tã”.

 Giuse đỏ tía như vải điều, giơ tay ra để đỡ lấy cái chồi nhỏ bằng thịt đang khóc oe oe vì Ngài lạnh! Khi ông đã ẵm lấy trong tay, ông không còn khăng khăng với ý định giữ Người cách rời với ông. Ông ghì Người vào ngực và bật lên tiếng nấc nở: “Ôi! Lạy Chúa, Thiên Chúa của tôi!” Ông cúi xuống để hôn đôi bàn chân nhỏ, và ông cảm thấy nó lạnh giá. Lúc đó ông ngồi xuống đất, ghì Người vào lòng, với cái áo nâu của ông, với bàn tay ông, ông phủ cho Người, sưởi ấm cho Người, bảo vệ Người cho khỏi gió đêm. Ông muốn lại bên đống lửa, nhưng tại chỗ đó có luồng gió lùa vào qua cửa. Tốt hơn là ở lại chỗ này, hay tốt hơn là lại chỗ hai con vật để nó che cho khỏi luồng gió và cho một tí hơi nóng. Ông lại chỗ giữa con bò và con lừa, quay lưng ra cửa. Ông cúi xuống trên trẻ sơ sinh để lấy lồng ngực của ông mà làm cho Người một cái lồng mà các bức vách là một cái đầu mầu xám có hai tai dài, và một cái mõm trắng có hai lỗ mũi bốc khói với đôi mắt hiền từ ướt nước.

 Maria đã mở cái rương và lấy ra các khăn với tã. Cô lại bên đống lửa để sưởi chúng. Đây, cô đến với Giuse và bọc chú bé trong tã ấm. Rồi cô bảo vệ cái đầu nhỏ bằng khăn voan của cô. Cô hỏi: “Bây giờ chúng ta đặt con ở chỗ nào?”

 Giuse nhìn quanh, suy nghĩ… Ông nói: “Đợi coi… Chúng ta đẩy hai con vật với mớ cỏ của chúng ra xa hơn. Chúng ta kéo mớ cỏ ở trên cao xuống vào trong máng, rồi chúng ta đặt Người ở đây, ở trong giữa. Bờ của cái máng này che cho Người khỏi gió, cỏ làm gối nệm cho Người, và con bò sẽ sưởi cho Người một chút bằng hơi thở của nó. Con bò hay hơn, nó bình tĩnh và kiên nhẫn hơn”. Và Giuse bắt đầu công việc trong khi Maria ru cho bé của mẹ ngủ, ôm ghì Người vào ngực và áp má trên cái đầu nhỏ để sưởi cho nó.

 Giuse khơi to ngọn lửa, không tiết kiệm củi nữa, và ông đốt lên được một ngọn lửa đẹp. Ông hơ nóng cỏ từng nắm một và ông ôm nó vào lòng để nó khỏi nguội đi. Rồi khi ông đã có một ôm cỏ đủ để làm chiếc nệm nhỏ cho cậu bé, ông tới chỗ máng cỏ, thu xếp để làm một cái nôi. Rồi ông nói: “Xong rồi, bây giờ phải có một cái mền để cho cỏ khỏi châm vào bé, và để đắp cho Người…”

 – Lấy áo khoác của em đi – Maria nói.

 – Nhưng em sẽ bị lạnh.

 – Ồ, không sao. Cái mền quá nhám. Áo khoác mềm và ấm. Em không lạnh. Chỉ làm sao cho bé không phải khổ nữa.

 Giuse lấy cái áo to rộng bằng len mềm mầu xanh lam, ông trải nó gấp đôi trên máng cỏ, với một vạt treo ở bên ngoài máng. Cái giường đầu tiên của Đấng Cứu Tinh đã sẵn sàng.

 Bà mẹ, với dáng diệu uyển chuyển dịu dàng, ẵm Người tới và đặt vào đó, đắp cho Người bằng vạt áo khoác mà cô kéo lên cả trên cái đầu trần ở trên cỏ, chỉ hơi được che cho khỏi bị châm nhờ cái voan mỏng của má. Bây giờ chỉ còn ló ra khuôn mặt nhỏ chỉ bằng nắm tay. Và hai người cúi xuống trên máng cỏ, sung sướng nhìn Người ngủ giấc ngủ đầu tiên. Sức nóng của khăn áo và rơm cỏ đã làm Người hết khóc, và đem giấc ngủ tới cho Giêsu dịu dàng.


Trích đoạn Tin Mừng Như Đã Mặc Khải Cho Tôi, Quyển 1.

Leave a Reply