Những nguyên tắc căn bản trong thực hành sùng kính Mẹ Maria mà thánh Louis de Montfort đưa ra đều cần thiết cho mọi linh hồn muốn đến với Thiên Chúa nhờ Mẹ Maria. Nếu không lưu tâm những nguyên tắc này, bạn sẽ gặp rủi ro đó là sai lạc trong con đường đến với Thiên Chúa. Bạn cần phải đi đúng hướng, dù cho có yêu mến Mẹ thật nhiều nhưng lòng mến đó không làm cho bạn đến được đích điểm là Thiên Chúa thì đó là một điều rất đáng lo ngại. Và tới khi được ban cho những ân sủng dồi dào, vẫn có người bị mất hết cũng chỉ vì một lý do…

Những nguyên tắc căn bản trong thực hành sùng kính Mẹ Maria

60.       Sau khi đã vắn tắt nói đến việc cần thiết của lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ, giờ đây tôi cần phải dẫn giải thêm những gì bao gồm trong việc tôn sùng này. Với ơn Chúa giúp, tôi sẽ làm điều này sau khi tôi nêu lên một số chân lý nền tảng để làm sáng tỏ việc tôn sùng đặc biệt và hợp lý mà tôi đang có ý định tỏ bày ở đây.

Mời bạn xem thêm: Vai Trò Của Mẹ Maria Trong Chương Trình Cứu Độ Của Thiên Chúa

Nguyên tắc thứ nhất: Chúa Kitô cần phải là đích điểm tối hậu của tất cả mọi việc tôn sùng

Maria, Maria Madelena & Gioan dưới chân Thánh Giá
Hai vị thánh rất mực yêu mến Chúa là Maria Magdalen & Gioan Tông Đồ. Ảnh: oceansbridge.com

61.       Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ của chúng ta, là Thiên Chúa thật và là người thật, cần phải là đích điểm tối hậu của tất cả mọi việc tôn sùng khác của chúng ta; bằng không, chúng sẽ là những gì sai lạc và lừa đảo. Người là Alpha và là Omega, là nguyên thủy và là cùng đích của hết mọi sự. Thánh Phaolô đã nói: “Chúng tôi lao nhọc chỉ để làm cho tất cả mọi người nên thiện hảo trong Chúa Giêsu Kitô”

Bởi vì, chỉ một mình Người mới có trọn vẹn tất cả thần tính và trọn vẹn tất cả ân sủng, nhân đức và thiện toàn. Chỉ ở nơi một mình Người chúng ta mới được hưởng mọi thứ ân phúc; Người là vị tôn sư duy nhất chúng ta cần phải học hỏi; là Chúa duy nhất chúng ta cần phải tùy thuộc; là Thủ Lãnh duy nhất chúng ta cần phải liên kết, và là mô phạm duy nhất chúng ta cần phải noi gương bắt chước.

Người là vị Y Sĩ duy nhất có thể chữa lành chúng ta; là vị Mục Tử duy nhất có thể nuôi dưỡng chúng ta; là Đường Lối duy nhất có thể dẫn dắt chúng ta; là Sự Thật duy nhất chúng ta có thể tin tưởng; là Sự Sống duy nhất có thể làm cho chúng ta sinh động. Một mình Người là tất cả mọi sự cho chúng ta, và chỉ một mình Người mới có thể làm thỏa mãn tất cả mọi ước vọng của chúng ta.

Dưới bầu trời này chúng ta không có một danh hiệu nào khác có thể cứu độ chúng ta (cf. Acts 4:12). Thiên Chúa đã không đặt một nền tảng nào khác cho phần rỗi của chúng ta, cho việc nên trọn lành của chúng ta và cho vinh quang của chúng ta ngoài Chúa Giêsu.

Hết mọi thứ xây dựng không được thiết lập trên tảng đá vững chắc này là xây trên cát lún, chắc chắn sẽ bị sụp đổ không sớm thì muộn. Hết mọi người trong thành phần tín hữu không liên kết với Người thì giống như một cành bị lìa khỏi thân nho. Nó bị rơi rụng và tàn héo, chỉ đáng bị đốt đi thôi.

Nếu chúng ta sống trong Chúa Giêsu và Chúa Giêsu sống trong chúng ta, chúng ta không việc gì phải sợ bị trầm luân. Không có một thiên thần nào trên trời hay một con người nào dưới thế, cả ma quỉ trong hỏa ngục, hay bất cứ một tạo vật nào có thể làm hại được chúng ta, không có một thụ tạo nào có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô.

Nhờ Người, với Người và trong Người, chúng ta có thể làm được tất cả mọi sự, và mang lại tất cả mọi vinh dự cùng vinh quang cho Cha trong sự hiệp nhất của Thánh Thần; chúng ta cũng có thể làm cho mình nên trọn lành và thành một thứ hương thơm của sự sống trường sinh cho tha nhân của chúng ta (2 Cor. 2:15-16).

62.       Bởi thế, nếu chúng ta đang muốn thiết lập một việc tôn sùng Đức Mẹ một cách hợp lý thì chỉ để có ý nhắm tới chỗ thiết lập việc tôn sùng Chúa của chúng ta được trọn hảo hơn, bằng cách cung cấp một phương thế bằng phẳng nhưng vững chắc cho việc tiến đến với Chúa Giêsu Kitô.

Nếu việc tôn sùng Đức Mẹ làm cho chúng ta lệch ra khỏi Chúa của chúng ta, chúng ta cần phải loại bỏ nó như là một thứ ảo tưởng từ ma quỉ. Thế nhưng ở đây không phải là trường hợp như thế. Như tôi đã trình bày và sẽ cho thấy một lần nữa sau này, việc tôn sùng này là những gì cần thiết, chỉ vì và nguyên bởi vì nó là một con đường đạt tới Chúa Giêsu một cách trọn hảo, yêu mến Người một cách thiết tha, và phụng sự Người một cách trung thành.

63.       Đến đây, hỡi Chúa Giêsu yêu dấu, con xin hướng về Chúa một chút, để âu yếm phàn nàn cùng Uy Linh Chúa rằng, đa số Kitô hữu, thậm chí cả một số trong thành phần học thức nhất của họ, không nhận thấy được mối liên hệ thiết yếu thắt kết Chúa với Mẹ Thánh của Chúa.

Lạy Chúa, Chúa luôn luôn ở với Mẹ Maria và Mẹ Maria bao giờ cũng ở với Chúa. Mẹ không bao giờ mà lại không có Chúa, bằng không Mẹ không còn là Mẹ nữa. Mẹ đã được nhờ ân sủng hoàn toàn biến đổi thành Chúa, đến độ Mẹ không còn sống nữa, không còn hiện hữu nữa mà là, hỡi Chúa Giêsu yêu dấu, một mình Chúa sống trong Mẹ và ngự trị trong Mẹ một cách trọn vẹn hơn ở nơi tất cả mọi thiên thần và thánh nhân.

Nếu chúng con biết được vinh quang và tình yêu vị thụ tạo tuyệt vời này hiến dâng lên Chúa, thì những niềm cảm mến của chúng con đối với Chúa cũng như với Mẹ sẽ khác xa với những niềm cảm mến của chúng con có được hiện nay.

Mẹ liên kết thân mật với Chúa hơn cả ánh sáng với mặt trời, nhiệt năng với lửa nóng. Con dám nói còn dễ tách biệt tất cả mọi thiên thần và thánh nhân ra khỏi Chúa hơn tách Chúa ra khỏi Mẹ Maria; vì Mẹ yêu mến Chúa thiết tha, và tôn vinh Chúa trọn hảo hơn tất cả mọi tạo vật khác hợp lại. 

64.       Hỡi Thầy yêu dấu của con, bởi thế, không gì lạ lùng và đáng thương cho bằng thấy con người ta tỏ ra thiếu hiểu biết và thiển cận đối với Mẹ thánh của Chúa? Con không nói nhiều tới những kẻ tôn thờ ngẫu tượng và dân ngoại là những thành phần không nhận biết Mẹ.

Thậm chí con cũng không nói tới cả những người lạc giáo và ly giáo là thành phần bỏ Chúa và Hội Thánh của Chúa, nên chẳng có chú ý gì tới Mẹ thánh của Chúa. Ở đây con muốn nói tới những người Công Giáo, thậm chí tới thành phần Công Giáo có học, thành phần cho mình là dạy dỗ đức tin cho kẻ khác mà lại không biết Chúa hay biết Mẹ của Chúa, ngoại trừ biết một cách tò mò, khô khan, lạnh nhạt và cằn cỗi vậy thôi.

Những con người này ít khi nói đến Mẹ của Chúa hay đến việc sùng kính Mẹ. Họ nói rằng họ sợ là việc tôn sùng Mẹ sẽ bị lạm dụng và Chúa sẽ bị xúc phạm bởi việc tôn kính thái quá giành cho Mẹ.

Họ lớn tiếng phản đối khi họ nhìn thấy hay nghe thấy một người tôi tớ sùng mộ Mẹ Maria thường cảm mến, sâu xa và mạnh mẽ nói về lòng sùng kính Mẹ.

Khi người tôi tớ này nói về lòng sùng kính Mẹ là một phương tiện chắc chắn để gặp được và mến yêu Chúa một cách an tâm và không sợ bị ảo tưởng lầm lạc, hay khi họ nói về việc tôn sùng này là một đạo lộ ngắn không gặp phải hiểm nguy, hay là một đường lối tinh tuyền không có những thứ bất toàn, hoặc là một bí quyết lạ lùng để gặp được Chúa, thì họ nêu lên cho người tôi tớ này thấy hằng ngàn những lý do quí báu cho thấy người tôi tớ này sai lầm biết bao khi nói quá nhiều về Mẹ Maria.

Họ nói rằng có nhiều thứ lạm dụng trong việc tôn sùng này cần chúng ta phải nỗ lực điểm mặt, và chúng ta cần phải hướng dân chúng về Chúa hơn là khuyên họ tôn sùng Mẹ của Chúa, Đấng mà họ cảm thấy đã yêu mến đủ rồi.

Đôi khi họ nói về việc tôn sùng Mẹ của Chúa thì mục đích của họ không phải là để phát động việc tôn sùng này, hay để thuyết phục dân chúng thi hành việc tôn sùng ấy, mà chỉ để hủy đi những thứ lạm dụng trong việc tôn sùng này mà thôi.

Thế nhưng, những con người ấy thật ra cũng chẳng có lòng đạo đức hay thực sự tôn sùng Chúa, vì họ không có lòng tôn sùng Mẹ Maria. Họ coi Kinh Mân Côi và Áo Đức Bà là những việc tôn sùng chỉ để dành cho thành phần đàn bà quê mùa hay thành phần dân chúng chẳng hiểu biết chi.

Tóm lại, họ nói chúng ta không cần đến những thứ ấy mới được cứu độ. Nếu họ gặp phải người nào có lòng yêu mến Đức Mẹ, người lần hạt mân côi hay tỏ ra bất cứ một việc tôn sùng nào đối với Mẹ, họ mau chóng thúc đẩy con người ấy đi đến chỗ thay lòng đổi dạ. Họ khuyên người này hãy đọc 7 thánh vinh thống hối thay vì Kinh Mân Côi, và tỏ lòng tôn sùng Chúa Giêsu thay vì Mẹ Maria.

Chúa Giêsu yêu dấu ơi, phải chăng những con người ấy có tinh thần của Chúa? Phải chăng tác hành như thế là họ làm Chúa được hài lòng? Phải chăng Chúa lấy làm hài lòng khi chúng con không cần làm hài lòng Mẹ của Chúa vì chúng con sợ xúc phạm đến Chúa? Phải chăng việc tôn sùng Mẹ thánh của Chúa là những gì gây trở ngại cho việc sùng kính Chúa?

Mẹ Maria có giữ cho Mẹ bất cứ điều tôn vinh nào chúng con giành cho Mẹ hay chăng? Phái chăng Mẹ là một trong những đối thủ của Chúa? Phải chăng Mẹ là một kẻ xa lạ chẳng có liên hệ gì với Chúa? Phải chăng việc làm vui lòng Mẹ lại là việc làm mất lòng Chúa? Phải chăng việc dâng mình cho Mẹ là việc thiệt thòi cho Chúa? Phải chăng yêu mến Mẹ là việc làm cho chúng con giảm bớt lòng kính mến Chúa?

65.       Tuy nhiên, hỡi Thầy yêu dấu của con, nếu thật sự tất cả những gì con vừa nói đều đúng, thì đối với việc tôn sùng Mẹ, đa số thành phần học giả uyên bác cũng không thể nào đi xa hơn như vậy, hay tỏ ra dửng dưng ơ hờ hơn như thế.

Xin hãy gìn giữ con cho khỏi đường lối suy nghĩ cùng tác hành của họ, và xin cho con có cùng một niềm tri ân, quí trọng, kính tôn và yêu mến như Chúa đối với Mẹ thánh của Chúa. Nhờ đó con có thể mến yêu và tôn vinh Chúa mỗi ngày một hơn, vì con sẽ noi gương bắt chước cùng theo Chúa mỗi ngày một khít khao hơn.

66.       Mặc dù cho tới nay con không nói gì hơn ngoài việc tôn kính Mẹ, xin Chúa giờ đây cũng ban cho con ơn biết ca ngợi Mẹ một cách xứng đáng hơn, bất chấp tất cả mọi kẻ thù của Mẹ cũng là của Chúa. Nhờ đó con có thể cùng các thánh nhân mạnh mẹ nói cùng họ rằng: “Đừng có ai tưởng là mình sẽ được Thiên Chúa thương mà lại là kẻ xúc phạm đến Mẹ của Người”.

67.       Để con có thể nhờ tình thương của Chúa đạt được lòng tôn sùng đích thực đối với Người Mẹ thánh của Chúa và truyền bá lòng tôn sùng này khắp nơi trên thế giới, xin Chúa hãy giúp cho con biết yêu mến Chúa hết lòng, và theo ý nguyện ấy, xin hãy chấp nhận lời nguyện cầu thiết tha nhất con dâng lên Chúa cùng với Thánh Âu Quốc Tinh và tất cả những người thật sự mến yêu Chúa.

Lời Nguyện Cầu của Thánh Âu Quốc Tinh

Ôi Chúa Giêsu Kitô, Chúa là Cha của con, là Thiên Chúa xót thương của con, là Vua cao cả của con, là Mục Tử nhân lành của con, là Thầy duy nhất của con, là vị phù trợ con trên hết, là người bạn yêu dấu tuyệt mỹ của con, là Bánh sự sống của con, là linh mục đời đời của con.

Chúa là vị hướng đạo dẫn con về quê hương thiên quốc của con, là ánh sáng đích thực duy nhất của con, là niềm vui thánh hảo của con, là đạo lộ chân thật của con, là sự khôn ngoan sáng suốt của con, là đơn thành tính chân chất của con, là bình an và thái hòa của linh hồn con, là sự bảo toàn trọn vẹn của con, là gia sản dồi dào của con, là ơn cứu độ đời đời của con.

Lạy Chúa Giêsu Kitô yêu dấu, tại sao con lại yêu chuộng hay mong muốn một điều gì khác trong cuộc đời của con ngoài Chúa là Thiên Chúa của con? Con ở đâu khi con không hiệp thông với Chúa đây?

Từ nay trở đi, con xin hướng tất cả mọi ước muốn của con về Chúa để chúng được Chúa soi sáng và tập trung vào Chúa. Con hướng chúng vươn lên vì chúng chần chừ đã lâu, hướng chúng mau tiến tới đích điểm của chúng, hướng chúng tìm kiếm Đấng chúng trông mong.

Ôi Chúa Giêsu, khốn cho những ai không mến yêu Chúa, với đầy những đắng cay khổ cực. Ôi Chúa Giêsu dịu dàng, xin cho hết mọi cảm tình xứng đáng của con rung lên tình mến yêu Chúa, lấy làm hân hoan trong Chúa và ngợi khen Chúa.

Ôi Thiên Chúa của lòng con và Giêsu Kitô là gia sản của con, chớ gì lòng con trở thành mềm mại trước tác động của Thần Linh Chúa, và xin Chúa hãy sống trong con.

Chớ gì lửa tình yêu của Chúa thiêu đốt linh hồn con. Chớ gì ngọn lửa này không ngừng bừng nóng trên bàn thờ tâm can của con. Chớ gì ngọn lửa ấy tỏa sáng trong thâm cung của con. Chớ gì ngọn lửa này tỏa nhiệt năng của nó vào những nơi mật thất của linh hồn con, để vào ngày tận số của mình, con có thể được ngọn lửa tình yêu Chúa thiêu đốt khi ra trước nhan Chúa. Amen.

Nguyên Tắc Thứ Hai: Chúng ta thuộc về Chúa Giêsu và Mẹ Maria như thành phần nô lệ của các Ngài.

Thánh Đaminh, phục vụ Mẹ Maria như một nô lệ của tình yêu đúng nghĩa.
Thánh Đaminh, phục vụ Mẹ Maria như một nô lệ của tình yêu đúng nghĩa.

68.       Từ những gì Chúa Giêsu Kitô liên hệ với chúng ta, chúng ta cần phải kết luận, như Thánh Phaolô (1 Cor. 6:19-20), rằng chúng ta không thuộc về mình mà là hoàn toàn thuộc về Người như là chi thể của Người và là nô lệ của Người, vì Người đã chuộc chúng ta bằng một giá vô cùng – bằng việc đổ Máu Châu Báu của Người.

Trước khi lãnh nhận phép rửa, chúng ta thuộc về ma quỉ như là tên nô lệ của hắn, nhưng phép rửa đã hết sức thật sự làm cho chúng ta trở thành nô lệ của Chúa Giêsu.

Bởi thế, chúng ta cần phải sống động, phải hoạt động và chết đi chỉ để sinh hoa trái cho Người (Rom. 7:4), bằng việc tôn vinh Người nơi thân thể của chúng ta và để Người cai trị trong linh hồn của chúng ta. Chúng ta là những gì Người đã chiếm đoạt, là dân Người đã thắng được, là gia sản của Người.

Chính vì thế mà Thánh Thần đã so sánh chúng ta:

1) với những thứ cây được trồng dọc theo các nguồn nước ân sủng trong cánh đồng của Giáo Hội, và là những cây cần phải sinh hoa kết trái vào thời điểm của chúng;

2) với những cành nho có Chúa Giêsu là thân nho, những cành nho cần phải sinh ra những trái nho ngon;

3) với một đàn chiên có Chúa Giêsu là Mục Tử, một đàn chiên cần phải gia tăng và cống hiến sữa ngọt;

4) với mảnh đất tốt được Thiên Chúa vun sới, nơi được gieo vãi hạt giống và mang lại thu hoạch gấp 30, 60 hay 100 (Ps. 1:3; Jn. 15:2; 10:11; Matt. 13:8).

Chúa chúng ta đã nguyền rủa cây vả không sinh hoa trái (Matt. 21:19) và trừng phạt người đầy tớ biếng nhác đã phí phạm tài năng của hắn (Matt. 25:24-30). 

Tất cả những điều này chứng tỏ cho thấy rằng Người muốn có được một thứ hoa trái nào đó nơi con người khốn khổ của chúng ta, tức là nơi các việc lành của chúng ta là những gì tự chúng thuộc về một mình Người, những con người “được dựng nên trong Chúa Giêsu Kitô để làm việc lành” (Eph. 2:10). 

Những lời này của Thánh Thần cho thấy rằng Chúa Giêsu là nguồn mạch duy nhất và phải là cùng đích duy nhất của tất cả mọi việc lành chúng ta làm, và chúng ta cần phải phụng sự Người không phải như thành phần tôi tớ được trả công mà là như thành phần nô lệ của tình yêu. Xin để tôi giải thích những gì tôi muốn nói tới ở đây.

69.       Có hai cách thuộc về một người khác và là hạ cấp trong thẩm quyền của họ. Một cách là ở chỗ phục vụ thông thường và cách kia là ở chỗ làm nô lệ. Bởi vậy, chúng ta cần phải sử dụng các từ ngữ “đầy tớ” và “nô lệ”.

Việc phục vụ thông thường nơi các xứ sở Kitô Giáo đó là khi một người được thuê mướn để phục vụ người khác qua một thời gian, với một số lương ấn định hay được thỏa thuận. Khi một con người hoàn toàn lệ thuộc vào người khác suốt đời, và phải phục vụ chủ mình mà không mong trả công hay đền bù, khi họ bị đối xử như một con vật ngoài đồng trong tay của người chủ nhân có quyền sinh sát, thì đó là việc làm nô lệ vậy.

70.       Vậy có 3 thứ nô lệ, nô lệ theo tự nhiên, nô lệ bị cưỡng ép và nô lệ vì tình nguyện.

Tất cả mọi tạo vật đều là nô lệ của Thiên Chúa ở nghĩa thứ nhất, vì “trái đất và mọi sự của nó đều thuộc về Chúa” (Ps. 23:1). 

Ma quỉ và thành phần trầm luân là nô lệ theo nghĩa thứ hai.

Các thánh trên thiên đình và thành phần công chính trên trái đất này là những người nô lệ theo nghĩa thứ ba.

Việc tình nguyện nô lệ là việc nô lệ trọn hảo nhất trong cả 3 tình trạng này, vì nhờ đó chúng ta làm cho Thiên Chúa được vinh quang nhất, Đấng thấy được cõi lòng (1 Kg. 16:7) và muốn nó được hiến dâng lên cho Ngài (Prov. 23:26). 

Ngài không phải thực sự được gọi là vị Thiên Chúa của cõi lòng (Ps. 72:26) hay của ý muốn yêu thương hay sao? Vì nhờ việc làm nô lệ như thế chúng ta tình nguyện chọn Thiên Chúa và việc phụng sự Ngài trước tất cả mọi sự khác, cho dù tự bản tính của mình chúng ta không buộc phải làm như thế.

71.       Giữa một người đầy tớ và một người nô lệ có cả một thế giới khác biệt nhau.

1) Một người đầy tớ không hiến cho người chủ thuê mướn của mình tất cả những gì họ là, tất cả những gì họ có, và tất cả những gì họ có thể chiếm hữu bởi chính họ hay nhờ người khác. Tuy nhiên, một người nô lệ hiến chính bản thân mình cho người chủ sở hữu của mình một cách trọn vẹn và độc quyền với tất cả mọi sự họ có và tất cả mọi sự họ có thể chiếm hữu.

2) Một người đầy tớ đòi phải trả công cho những việc phục vụ làm cho người chủ thuê mướn. Trong khi đó một người nô lệ không còn trông đợi gì được, bất kể có tài khéo mấy đi nữa, bất kể có chuyên chú hay công sức được họ dồn vào việc làm của họ.

3) Một người đầy tớ có thể rời bỏ không làm cho người chủ thuê mướn mình nữa bất cứ khi nào họ muốn, hay ít là khi hết thời hạn phục vụ của họ, trong khi một người nô lệ không có thứ quyền hạn này.

4) Một người chủ thuê mướn không có quyền sinh tử trên người đầy tớ. Nếu họ sát hại người đầy tớ như sát hại một con thú gây rắc rối là họ phạm tội sát nhân. Thế nhưng người chủ sở hữu của một người nô lệ theo pháp luật có quyền sinh sát người nô lệ này, bởi thế họ có thể bán người nô lệ cho người nào họ muốn, hay – xin lỗi nếu được so sánh – có thể sát hại người nô lệ như giết một con ngựa của mình.

5) Sau hết, một người đầy tớ chỉ làm việc cho người chủ thuê mướn chỉ trong vòng một thời gian, còn người nô lệ thì vĩnh viễn. 

72.       Không có một tình trạng nào khác của con người liên quan tới việc thuộc về kẻ khác hơn là tình trạng làm nô lệ. Trong thành phần Kitô hữu, không gì làm cho con người trọn vẹn thuộc về Chúa Giêsu và Mẹ thánh của Người hơn là việc tình nguyện làm nô lệ.

Chính Chúa của chúng ta đã làm gương cho chúng ta về điều này khi vì yêu thương chúng ta “đã mặc lấy thân phận nô lệ” (Phil. 2:7). Đức Mẹ cũng đã cống hiến cho chúng ta cùng một mẫu gương khi Mẹ xưng mình là nữ tỳ hay nô lệ của Chúa (Lk. 1:38). Thánh Tông Đồ đã coi là một vinh dự khi được gọi là “người nô lệ của Chúa Kitô”. Trong Thánh Kinh, có một số lần Kitô hữu được đề cập tới như là “những người nô lệ của Chúa Kitô”.  

Tiếng Latinh “servus” có lúc chỉ có nghĩa là một người nô lệ, vì như chúng ta biết không có vấn đề thành phần đầy tớ. Thành phần chủ nhân sở hữu được phục vụ bởi những người nô lệ hay bởi những người tự do. Sách Giáo Lý của Công Đồng Chung Triđentinô thực sự đã nói đến việc làm nô lệ cho Chúa Giêsu Kitô, khi sử dụng một từ ngữ không úp mở là “Mancipia Christi”, một chữ rõ ràng có nghĩa là những người nô lệ của Chúa Kitô. 

73.       Bởi thế tôi mới nói chúng ta cần phải thuộc về Chúa Giêsu và phụng sự Người không phải chỉ như là những người đầy tớ làm thuê mà là những người nô lệ tình nguyện, thành phần, được tác động bởi tình yêu quảng đại, dấn thân phục vụ Người, theo các cách thức của những kẻ làm nô lệ, vì muốn tôn trọng việc thuộc về Người. 

Trước khi chúng ta lãnh nhận phép rửa, chúng ta đã là nô lệ của ma quỉ, thế nhưng phép rửa đã làm cho chúng ta trở thành nô lệ của Chúa Giêsu. Kitô hữu chỉ có thể một là làm nô lệ cho ma quỉ hai là làm nô lệ cho Chúa Kitô thôi.

74.       Những gì tôi nói theo nghĩa tuyệt đối về Chúa Giêsu thì tôi nói theo nghĩa tương đối về Đức Mẹ của chúng ta. Chúa Giêsu, trong việc chọn Mẹ làm người liên kết bất khả phân ly trong đời sống của Người, trong vinh quang và quyền năng trên trời cũng như dưới thế, đã ban cho Mẹ, nơi vương quốc của Người, theo ân sủng được hưởng, những quyền hạn và đặc ân như Người có theo bản tính.

“Tất cả mọi sự thuộc về Thiên Chúa theo bản tính thì cũng thuộc về Mẹ theo ân sủng”, các thánh đã nói thế, và theo các ngài, như Chúa Giêsu và Mẹ Maria có cùng một ý muốn và cùng một quyền năng thế nào thì các Ngài cũng có cùng một thành phần thuộc hạ, tôi tớ và nô lệ như vậy.

75.       Bởi thế, theo giáo huấn của các thánh cũng như của nhiều con người cao cả chúng ta có thể gọi mình là và trở nên những người nô lệ yêu thương của Đức Mẹ chúng ta, hầu trở thành những người nô lệ trọn hảo hơn của Chúa Giêsu.

Mẹ Maria là phương tiện được Chúa chúng ta chọn để đến với chúng ta, và Mẹ cũng là phương tiện để chúng ta chọn để đến với Người, vì Mẹ không như những tạo vật khác có khuynh hướng lái chúng ta xa khỏi Thiên Chúa hơn là hướng về Ngài, nếu chúng ta quá dính bén với chúng. Ước muốn mãnh liệt nhất của Mẹ Maria là liên kết chúng ta với Chúa Giêsu, Con Mẹ, và ước muốn mạnh mẽ nhất của Con Mẹ đó là chúng ta đến với Người qua Người Mẹ Thánh của Người.

Người lấy làm hài lòng và cảm thấy được tôn kính, như một đức vua cảm thấy hài lòng và được tôn kính khi một người công dân, vì muốn trở thành một thần dân và nô lệ tốt hơn của vị vua này, đã hiến mình làm nô lệ cho hoàng hậu. 

Đó là lý do tại sao các Giáo Phụ của Giáo Hội, và Thánh Bonaventura sau các vị này, đã chủ trương rằng Đức Trinh Nữ là đường dẫn tới Chúa của chúng ta.

76.       Hơn thế nữa, nếu, như tôi đã nói, Đức Trinh Nữ là Nữ Vương và là Chủ Tể trời đất, thì Mẹ lại chẳng có các thuộc hạ và nô lệ nhiều như số tạo vật hay sao?

“Tất cả mọi sự, bao gồm cả bản thân Mẹ Maria, đều tùy thuộc vào quyền năng của Thiên Chúa. Tất cả mọi sự, bao gồm cả Thiên Chúa nữa, đều tùy thuộc vào quyền năng của Mẹ Maria”, chúng ta đã được Thánh Anselmô, Thánh Bênađô, Thánh Bênađinô và Thánh Bônaventura nói cho biết như thế.

Chẳng lẽ lại không hợp lý hay sao khi thấy trong số nhiều người nô lệ có một số là nô lệ của tình yêu, thành phần tự nguyện chọn Mẹ Maria làm Nữ Vương của họ? Chẳng lẽ con người và ma quỉ đều có thành phần nô lệ tình nguyện mà Mẹ Maria lại chẳng có hay sao?

Một ông vua lấy làm vinh dự khi hoàng hậu, người bạn của mình, cũng cần phải có những người làm nô lệ riêng của bà, thành phần bà có quyền sinh sát, vì vinh dự và quyền lực được cống hiến cho hoàng hậu là vinh dự và quyền lực được dâng lên cho vị vua này vậy.

Chẳng lẽ chúng ta tin rằng Chúa Giêsu là người con đệ nhất trong các người con, Đấng đã chia sẻ quyền năng của mình cho Người Mẹ Thánh của mình, lại tỏ ra phẫn nộ với Mẹ vì Mẹ có những người làm nô lệ riêng của Mẹ? Chẳng lẽ Người lại ít trân trọng và yêu mến Mẹ mình hơn vua Anasuerus đã tỏ ra với hoàng hậu Esther, hay vua Solomon với hoàng hậu Bethshabe? Ai có thể nói, hay thậm chí nghĩ được một điều như thế xẩy ra chứ?

77.       Thế nhưng tôi đang viết gì đây? Tại sao tôi lại phí thời giờ để chứng minh một điều quá hiển nhiên như thế chứ?

Nếu người ta không muốn coi họ là nô lệ của Mẹ Maria thì đã có sao đâu? Hãy cứ để cho họ trở thành và gọi mình là nô lệ của Chúa Giêsu đi, vì điều này cũng giống như làm nô lệ của Mẹ Maria thôi, bởi Chúa Giêsu là hoa trái và là vinh hiển của Mẹ Maria. 

Đây là những gì chúng ta thực hiện một cách trọn hảo nơi việc tôn sùng chúng ta sẽ bàn đến ở phần sau.

Nguyên Tắc Thứ Ba: Chúng ta cần phải thoát ly những gì là xấu xa nơi chúng ta.

78.       Những hành động tốt đẹp nhất của chúng ta thường bị vương tì ố và hư hại do bởi sự dữ xuất phát từ chúng ta.

Khi thứ nước tinh khiết, trong trẻo được đổ vào một cái bình có mùi hôi, hay khi rượu được đổ vào một cái thùng trước kia đựng thứ rượu khác chưa tráng rửa, thì thứ nước trong trẻo và rượu ngon lành ấy bị ô nhiễm và liền xông mùi khó chịu.

Cũng thế, khi Thiên Chúa đổ vào linh hồn của chúng ta, một linh hồn bị nhiễm nguyên tội và phạm tội, những thứ nước trời ân sủng của Ngài hay các thứ rượu ngon tình yêu của Ngài, thì những tặng ân ấy của Ngài thường bị hư hại và ô uế bởi sự dữ đóng cặn vì tội lỗi trong chúng ta. 

Các hành động của chúng ta, cho dù là những hành động của nhân đức cao cả nhất, tỏ lộ những hậu quả của nó. Bởi thế, vấn đề hết sức hệ trọng ở đây là, trong việc tìm kiếm sự trọn lành là những gì chỉ có thể đạt được nhờ hiệp nhất với Chúa Giêsu, chúng ta cần phải thoát ly tất cả những gì là sự dữ trong chúng ta. Bằng không, Vị Chúa vô cùng tinh tuyền của chúng ta, Đấng hết sức ghê tởm những gì là tì ố nhỏ nhất trong linh hồn của chúng ta, sẽ không chịu liên kết chúng ta với Người và sẽ đuổi chúng ta đi khuất nhan Người.

79.       Để tước lột bản thân mình cho khỏi tính vị kỷ, trước hết, nhờ ánh sáng của Thánh Linh, chúng ta cần phải hoàn toàn nhận thức về bản tính bị ô nhơ của chúng ta. Tự mình chúng ta không thể nào làm được bất cứ điều gì mang lại lợi ích cho phần rỗi của chúng ta.

Tình trạng yếu hèn của chúng ta là những gì hiển nhiên ở trong tất cả mọi sự chúng ta làm, và chúng ta là người thường không đáng tin cậy. Chúng ta không xứng đáng lãnh nhận bất cứ ơn nào của Chúa. Khuynh hướng phạm tội của chúng ta luôn có đó.

Tội lỗi của Adong hầu như hoàn toàn làm chúng ta bị hư hại và nặc mùi, nó làm cho chúng ta tràn đầy những kiêu căng và làm băng hoại hết mọi người chúng ta, nó như men làm chua, làm ủng và làm hư mất đấu bột có thứ men này.

Adam and Eve Những Nguyên Tắc Căn Bản Trong Thực Hành Sùng Kính Mẹ Maria
Linh hồn của chúng ta có cặn của sự dữ là tội nguyên tổ, tội bất phục tùng Thiên Chúa. Ảnh: http://mathaytes.blogspot.com/

Các thứ tội lỗi thực sự chúng ta đã vấp phạm, dù nặng hay nhẹ, cho dù được thứ tha, là những gì làm gia tăng những ước muốn hèn hạ của chúng ta, tình trạng yếu hèn của chúng ta, tính chất bất nhất của chúng ta và các khuynh hướng xấu xa của chúng ta, và lưu lại nơi linh hồn của chúng ta một thứ cặn sự dữ.

Thân thể của chúng ta bị băng hoại đến nỗi chúng được Thánh Linh nói tới như là những thân thể của tội lỗi (Rom. 6:6), như được cưu mang (Ps. 50:7)và nuôi dưỡng trong tội lỗi , và có thể phạm bất cứ thứ tội nào. Chúng có thể bị hằng ngàn thứ yếu đau, hằng ngày bị bại hoại đi và trở thành trú sở cho bệnh hoạn, dòi bọ và hư hoại. 

Linh hồn của chúng ta, nên một với thân thể của chúng ta, đã trở thành nhục thể đến nỗi được gọi là xác thịt. “Tất cả mọi xác thịt đều đã làm hư hoại đi đường lối của mình” (Gen. 6:12). Tính kiêu hãnh và tình trạng mù quáng trong tâm thần, tình trạng cứng lòng, yếu đuối và bất nhất của linh hồn, những xu hướng xấu, những đam mê phản loạn, những tật bệnh của xác thân, chúng ta có thể gọi tất cả những điều ấy là của chúng ta.

Tự bản chất, chúng ta kiêu căng hơn cả những con công, chúng ta dính liền với trái đất này hơn là những con cóc, chúng ta đê tiện hơn cả những con dê, ghen tị hơn là những con rắn, tham ăn hơn cả những con lợn, hung dữ hơn là những con cọp, lười biếng hơn cả những con rùa, yếu đuối hơn là những cây sậy, và thay đổi hơn cả những chong chóng hứng gió. Chúng ta chẳng có gì trong chúng ta ngoài tội lỗi, chỉ đáng Chúa nổi cơn thịnh nộ và sa hỏa ngục đời đời.

80.       Vậy thì tại sao Chúa của chúng ta đã ấn định là ai muốn làm môn đệ của Người thì phải từ bỏ chính mình và ghét bỏ chính sự sống của mình? Người đã làm sáng tỏ là ai yêu sự sống mình thì sẽ mất nó, còn ai ghét sự sống mình thì lại giữ được nó (Jn. 12:25). Vậy, Chúa của chúng ta, Đấng là Sự Khôn Ngoan vô cùng và không ban bố những giới luật vô lý, đòi chúng ta phải ghét bản thân mình chỉ vì chúng ta hết sức xứng đáng bị ghét. Không gì đáng yêu mến hơn Thiên Chúa thế nào thì cũng chẳng có gì đáng ghét hơn là bản thân.

81.       Sau nữa, để bản thân chúng ta trở nên trống rỗng, chúng ta cần phải hằng ngày chết đi cho bản thân mình. Điều này cần chúng ta từ bỏ những gì thúc đẩy chúng ta làm bởi các tài năng của linh hồn và những giác quan của thân xác.

Chúng ta cần phải nhìn như thể không thấy, nghe như thể không nghe và sử dụng những sự vật trên thế gian này như không hưởng dụng (1 Cor. 7:29-31)

Đó là những gì được Thánh Phaolô gọi là ‘việc chết đi hằng ngày’ (1 Cor. 15:31). Nếu hạt lúa miến rơi xuống đất không chết đi thì nó vẫn còn nguyên là một hạt miến chẳng sinh hoa trái gì (Jn. 12:24-25). 

Nếu chúng ta không chết đi cho chính mình và nếu những việc tôn sùng thánh hảo nhất của chúng ta không dẫn chúng ta tới cái chết cần thiết và hiệu năng này, thì chúng ta không sinh hoa kết trái xứng đáng và các việc tôn sùng của chúng ta sẽ chẳng còn sinh lợi ích.

Tất cả những việc lành của chúng ta sẽ bị ô uế bởi tự ái và ý riêng, khiến cho các việc hy sinh cao cả nhất của chúng ta cũng như những hành động tốt đẹp nhất của chúng ta sẽ không đáng Chúa chấp nhận.

Bởi thế mà khi tới giờ chết, chúng ta mới thấy mình chẳng có nhân đức và công lênh gì, và mới khám phá ra rằng chúng ta không có được lấy một tia nào của tình yêu tinh tuyền được Thiên Chúa chỉ chia sẻ với những ai đã chết cho chính mình và sống đời ẩn thân với Chúa Giêsu Kitô trong Ngài (Col. 3:3).

82.       Sau hết, chúng ta cần phải chọn lấy trong số tất cả những việc sùng kính Đức Trinh Nữ việc nào làm cho chúng ta chết đi cho bản thân mình chắc chắn hơn. Việc tôn sùng ấy sẽ là việc tôn sùng làm cho chúng ta nên thánh nhất và nên thánh trên hết.

Vì chúng ta không được tin rằng tất cả những gì lộng lẫy hào nhoáng đều là vàng, tất cả những gì ngọt ngào đều là mật, hay tất cả những gì dễ làm và được nhiều người làm đều là thánh hảo nhất. Giống như về tự nhiên có những thứ bí quyết giúp chúng ta có thể thực hiện một số sự việc nào đó một cách mau chóng, dễ dàng và ít tốn kém thế nào, thì đời sống thiêng liêng cũng có những thứ bí quyết giúp chúng ta có thể thi hành các việc làm một cách nhanh chóng, xuôi thuận và dễ dàng như thế.

Những việc làm này chẳng hạn như là việc làm cho bản thân chúng ta không còn tự ái, làm cho bản thân chúng ta đầy tràn Thiên Chúa và đạt được sự trọn lành.

Việc tôn sùng tôi có dự định dẫn giải là một trong những thứ bí mật về ân sủng ấy, vì nó vốn chưa được hầu hết Kitô hữu biết tới. Chỉ có một ít người sốt sắng biết về nó, và nó cũng vẫn mới được một ít người thực hiện cùng cảm nhận mà thôi. Để bắt đầu giải thích cho việc tôn sùng này thì đây là sự thật thứ tư, hệ quả của sự thật thứ ba. 

Nguyên Tắc Thứ Bốn: Càng sống khiêm nhượng hơn khi có một vị môi giới với Chúa Kitô

83.       Việc tiến đến với Thiên Chúa qua một vị trung gian môi giới hơn là tự mình trực tiếp đến với Ngài là điều trọn lành hơn, vì cần phải có lòng khiêm nhượng hơn. Bản tính loài người của chúng ta, như tôi vừa trình bày, bị hư hoại tới độ nếu chúng ta cậy dựa vào việc làm của mình, nỗ lực của mình và khả năng của mình để tiến  tới với Thiên Chúa và làm hài lòng Ngài, thì chắc chắn các việc lành của chúng ta sẽ bị ô uế và ít có giá trị trước nhan Ngài.

Những việc làm ấy của chúng ta sẽ không khiến Ngài liên kết với chúng ta hay đáp ứng những lời nguyện cầu của chúng ta. Thiên Chúa có những lý do của Ngài về việc ban cho chúng ta thành phần môi giới đối với Ngài. Ngài thấy cái bất xứng và bất lực của chúng ta, và đã thương hại chúng ta. 

Để chúng ta có thể đến với lòng xót thương của Ngài, Ngài đã ban cho chúng ta thành phần biện hộ quyền uy, đến nỗi nếu chúng ta coi thường thành phần môi giới ấy mà trực tiếp tiến đến với sự thánh thiện vô cùng của Ngài, không cần đến sự trợ giúp của bất kỳ một ai trong các vị ấy là chúng ta chắc chắn thiếu lòng khiêm nhượng và tôn kính đối với Thiên Chúa là Đấng quá cao cả và thánh hảo.

Như thế có nghĩa là chúng ta tỏ ra ít coi trọng một Đức Vua trên hết các vua hơn là đối với một vị vua chúa trần gian này, vì chúng ta không dám tiến đến với một vị vua trần gian nếu không nhờ một người bạn nói cho chúng ta.

84.       Chúa Kitô là Đấng Biện Hộ của chúng ta và là Đấng Trung Gian cứu chuộc của chúng ta đối với Thiên Chúa Cha.

Chính nhờ Người mà chúng ta phải nguyện cầu cùng với toàn thể Hội Thánh, cả Hội Thánh chiến thắng lẫn Hội Thánh chiến đấu. Chính nhờ Người mà chúng ta có thể đến với Thiên Chúa Cha.

Chúng ta không bao giờ được xuất hiện trước nhan Thiên Chúa là Cha của chúng ta, trừ phi chúng ta được hỗ trợ bởi các công nghiệp của Con Ngài, và, có thể nói, được mặc lấy những công nghiệp ấy, như thanh niên Giacóp mặc lấy da của những con dê non, khi anh ta đến trước Isaac cha mình để lãnh nhận việc chúc phúc của ông.

85.       Thế nhưng, phải chăng chúng ta hoàn toàn không cần một vị môi giới với chính Đấng Trung Gian? Chúng ta có tinh tuyền đủ để trực tiếp liên kết với Chúa Kitô mà không cần trợ giúp gì hay chăng? Chúa Giêsu lại không phải là Thiên Chúa, hoàn toàn ngang hàng với Cha hay sao?

Bởi thế, Người không phải là Đấng Chí Thánh, có quyền được tôn kính giống như Cha của Người hay sao? Phải chăng vì tình yêu thương vô cùng của mình, Người đã trở nên sự bảo toàn của chúng ta và là Đấng Trung Gian của chúng ta đối với Cha của Người, Đấng Người muốn bù đắp để cứu chuộc chúng ta khỏi các thứ nợ nần của chúng ta, mà chúng ta vì thế được quyền tỏ ra ít tôn kính và ít coi trọng sự uy nghi cùng sự thánh thiện của ngôi vị Người hay sao?

Chúng ta đừng sợ cùng với Thánh Bênađô nói rằng chúng ta cần một vị môi giới đối với chính Vị Môi Giới, mà Mẹ Maria được Thiên Chúa trân trọng là vị có thể làm trọn sứ vụ yêu thương này nhất.

Nhờ Mẹ Chúa Giêsu đã đến với chúng ta; nhờ Mẹ chúng ta cần phải đến với NgườiNếu chúng ta sợ trực tiếp đến với Chúa Giêsu, Đấng là Thiên Chúa, vì sự cao cả vô cùng của Người, hay vì thân phận thấp hèn của chúng ta, hoặc vì tội lỗi của chúng ta, thì chúng ta đừng sợ nài xin sự trợ giúp và chuyển cầu của Mẹ Maria, Mẹ của chúng ta.

Mẹ từ ái, dịu dàng, không có gì là thô bạo hay ghê gớm, không quá cao sang và quá rạng ngời. Khi chúng ta thấy Mẹ là chúng ta thấy nhân tính của chúng ta ở mức độ tinh tuyền nhất. Mẹ không phải là mặt trời, chói lòa thị lực yếu kém của chúng ta bằng tia sáng rạng ngời của nó. Trái lại, Mẹ mỹ lệ và dịu hiền như mặt trăng (Cant. 6:9), một tinh cầu lãnh nhận ánh sáng của nó từ mặt trời, rồi làm dịu ánh sáng ấy lại, thích ứng ánh sáng này với tầm thu nhận hạn hẹp của chúng ta.

Mẹ tràn đầy yêu thương đến độ không ai kêu xin Mẹ chuyển cầu mà lại bị phủ nhận chối từ, bất kể họ có tội lỗi đến thế nào chăng nữa. Các thánh nhân nói rằng từ khi có thế gian này chưa từng thấy ai tin tưởng kiên tâm chạy đến cùng Đức Mẹ mà lại bị ruồng bỏ.

Quyền uy của Mẹ lớn lao tới độ những lời nguyện cầu của Mẹ không bao giờ bị chối từ. Mẹ chỉ việc trình lên Con Mẹ lời nguyện cầu thì Người lập tức đón nhận Mẹ và làm thỏa đáng những gì Mẹ yêu cầu. Người luôn tỏ ra cảm kích trước những lời nguyện cầu từ Người Mẹ yêu dấu của Người là vị đã cưu mang Người và dưỡng nuôi Người. 

86.       Tất cả những điều này được xuất phát từ Thánh Bênađô và Bonaventura. Theo các vị, chúng ta cần thực hiện ba bước để tiến tới Thiên Chúa. Bước thứ nhất, gần chúng ta nhất và hợp với khả năng của chúng ta nhất, đó là Mẹ Maria; bước thứ hai là Chúa Giêsu Kitô; bước thứ ba là Thiên Chúa Cha. Để đến với Chúa Giêsu chúng ta cần phải đến với Mẹ Maria là vị trung gian chuyển cầu của chúng ta. Để đến với Thiên Chúa Cha, chúng ta cần phải đến với Chúa Giêsu là Đấng Trung Gian cứu chuộc của chúng ta. Trật tự này hoàn toàn được tuân theo nơi lòng sùng kính tôi sẽ nói đến sâu rộng hơn nữa.

Nguyên Tắc Thứ Năm: Khó giữ được các ơn Thiên Chúa ban

87.       Vì tình trạng yếu hèn và mỏng dòn của chúng ta thì rất khó lòng giữ được các ân sủng và kho tàng chúng ta đã lãnh nhận được từ Thiên Chúa. 

1- Chúng ta chứa đựng kho tàng này, một kho tàng còn giá trị hơn cả trời đất, trong các bình sành (2 Cor. 4:7), tức là trong một thân thể hư hoại, cũng như trong một linh hồn yếu đuối và chao đảo chỉ hơi một tí là cảm thấy buồn nản và rối loạn.

88.       2- Thành phần thần dữ, như những tên trộm tinh ranh, có thể chộp bắt chúng ta và cướp đoạt của chúng ta tất cả những gì chúng ta có. Chúng đang ngày đêm rình chực thời cơ. Chúng không ngừng dò la tìm cách nuốt lấy chúng ta, và giật khỏi chúng ta, chỉ trong giây phút ngắn ngủi sa ngã phạm tội, tất cả mọi ân sủng và công nghiệp chúng ta đã phải mất nhiều năm mới tạo được.

Cái thâm độc của chúng và kinh nghiệm của chúng, cái tinh khôn của chúng và con số đông đảo của chúng phải làm cho chúng ta cảm thấy sợ hãi về một tình trạng bất hạnh như thế xẩy ra cho chúng ta. Có người, dồi dào hơn chúng ta về ân sủng và nhân đức, có kinh nghiệm và tiến đức hơn chúng ta, cũng đã từng bị chộp bắt và bị tước đoạt hết mọi sự. Biết bao nhiêu là cây hương bá trên Núi Libăng, biết bao nhiêu là tinh tú trên bầu trời chúng ta cảm thấy tiếc nuối khi thấy rơi xuống, và trong một thời gian ngắn, bị mất đi những gì là cao cả và rạng ngời của mình!

Tình trạng lật ngược không ngờ này do cái gì gây ra? Không phải bởi thiếu ân sủng, vì không ai chối cãi được điều này. Đó là vì thiếu lòng khiêm nhượng; họ coi mình mạnh mẽ và tự mãn hơn thực sự họ là. Họ nghĩ mình đủ sức giữ được những kho tàng ấy.

Họ tin rằng nhà của họ đủ an toàn và những kho bạc của họ cứng đủ để bảo toàn kho tàng ân sủng quí báu của họ. Chính vì lòng tin cậy vô thức của họ nơi bản thân họ – mặc dù đối với họ đường như là chỉ cậy dựa vào một mình ơn Chúa – mà Chúa chí công của chúng ta mới để mặc họ và để họ bị tước lột.

Nếu họ biết được lòng tôn sùng tuyệt vời tôi sẽ dẫn giải sau này, họ sẽ ký thác kho tàng của họ cho Mẹ Maria, Vị Trinh Nữ uy quyền và tín trung. Mẹ gìn giữ nó cho họ như là sở hữu của Mẹ, và thậm chí coi lòng tin tưởng ấy là một trách nhiệm công bình.

89.       3- Khó mà kiên trì thánh đức vì ảnh hưởng bại hoại thái quá của thế gian. Thế gian quá băng hoại đến nỗi hầu như không thể tránh được vấn đề các tâm hồn đạo hạnh bị vấy bẩn, nếu không bởi bùn đất thì ít là bởi bụi bặm.

Thật là một phép lạ xẩy ra cho bất cứ ai có thể đứng vững giữa giòng cuồng lưu này mà không bị cuốn trôi đi; có thể an toàn trong trận bão biển này mà không bị chìm đắm, hay bị hải tặc; thở hít bầu không khí bệnh hoạn này mà không bị nhiễm lây. Chính Mẹ Maria, vị Trinh Nữ trung tín duy nhất mà Satan không bao giờ được đụng tới, là vị thực hiện phép lạ này cho những ai thực sự mến yêu Mẹ.

Leave a Reply